Tổng Hợp

Tự lực văn đoàn – văn học và cách mạng (44)

Thụy Khuê

Hợp tác và đối đầu

Trong chương , chúng tôi đã trình bày vấn đề: Ngày vua Bảo Đại thoái vị là 23-8-1945, nhưng bị đổi thành 30-8-1945.

Còn lại hai sự kiện quan trọng không kém, cần được tìm hiểu:

1- Ai là người chủ động việc đánh điện tín yêu cầu vua Bảo Đại thoái vị?

2- Tại sao có hai văn bản điện tín (yêu cầu vua thoái vị) khác nhau: bản in trên báo không giống với bản in trong hồi ký của cựu hoàng Bảo Đại?

Chúng tôi muốn giải đáp hai câu hỏi này trước khi đi vào nội dung của chương giữa hai bên quốc cộng trong năm 1945-1946.

Ai chủ trương việc đánh điện tín yêu cầu vua Bảo Đại thoái vị?

Khi đọc tài liệu, chúng tôi ngạc nhiên nhận thấy:

– Có nhận đã đánh điện về Huế yêu cầu vua Bảo Đại thoái vị, là (theo Đoàn Thêm)[1] và (theo Phạm Khắc Hoè).

– Bản điện tín vua nhận được và bản điện tín vua trả lời in trong sách hoàn toàn khác với hai bản đăng trên báo .

Đọc hồi ký của Hoàng Văn Hoan, mới thấy hé lộ một chút ánh sáng về việc này.

Trong đoạn viết về hai hội nghị quan trọng đầu tiên, mang tính cách lịch sử của Đảng Cộng Sản, tại Tân Trào (Tuyên Quang) trong hai ngày 13 và 16 tháng 8-1945, Hoàng Văn Hoan còn cho thêm một số thông tin quan trọng khác liên quan đến ngày lễ thoái vị ở Huế, giống những điều cựu hoàng Bảo Đại viết và khác hẳn báo chí chính thống thời bấy giờ.

Về Hội nghị thứ nhất, tức , ông viết:

[2]

Về hội nghị thứ hai, tức , họp ngày 16-8-45, ở đình Tân Trào, do Tổng Bộ Việt Minh triệu tập, có khoảng 60 đại biểu các đoàn thể nhân dân tham dự, ông viết:

. (…)

[3].

Hoàng Văn Hoan còn cho biết, ông được lệnh ở lại Tân Trào để “.

Bỗng mấy hôm sau, ông được tin:

(chúng tôi in đậm)[4]

[5]

Hoàng Văn Hoan viết ngắn gọn và đầy đủ, ngày tháng ăn khớp với những điều cựu hoàng Bảo Đại ghi trong hồi ký .

Riêng về ngày vua thoái vị, Hoàng Văn Hoan ghi 25-8 theo ngày ghi trên như Hoàng Văn Đào và Nghiêm Kế Tổ. Nhưng, như ta đã biết, cựu hoàng giải thích về chi tiết này: ngày 23-8 ông đọc chiếu thoái vị, được viết trong đêm 22, nhưng đề ngày 25-8[6].

Hoàng Văn Hoan còn cho biết: “

Như vậy, mọi việc đều sáng tỏ: Khi thoái vị, vua trao ấn kiếm cho hai là Trần Huy Liệu và Cù Huy Cận, vì lúc đó chưa có Chính phủ Lâm thời. Điều này cũng được Hoàng Văn Hoan xác nhận:

Nội dung bức điện tín yêu cầu vua thoái vị, được ghi lại trong như sau:

.”

[7]

Phạm Khắc Hoè trong , kể lại rằng:

[8]

Phạm Khắc Hoè chép lại nội dung bức điện tín in trên báo Cứu Quốc số 32 (27-8-1945). Ta thấy ngay bức điện tín này khác hẳn bức được in trong hồi ký của cựu hoàng. Đặc biệt hai câu: Lúc đó chưa có Chính phủ lâm thời và Hồ Chí Minh còn ở Tân Trào, chưa về Hà Nội, theo như lời Hoàng Văn Hoan ghi ” Không có lý do gì khiến Hoàng Văn Hoan viết sai về việc này; nhất là các chi tiết khác ông đều viết giống cựu hoàng Bảo Đại.

Hoàng Văn Hoan dùng những chữ “”, “” để chỉ Trần Huy Liệu và Cù Huy Cận, mà không dùng chữ “” như báo Cứu Quốc. Và ông cũng không nói đến sự hiện diện của Nguyễn Lương Bằng, đúng như trong hồi ký của Bảo Đại.

Ngoài ra, đoạn văn: in trên báo Cứu Quốc, còn có ý nói chính Chủ tịch Hồ Chí Minh yêu cầu nhà vua thoái vị. Điểm này, ngược hẳn với những điều Chủ tịch Hồ Chí Minh nói với cựu hoàng Bảo Đại, khi ông ra Hà Nội:

[9]

Lời này xem ra thành thực chứ không phải là lời ngoại giao. Vậy:

1- Việc đánh điện vào Huế yêu cầu vua thoái vị, do ai chủ trương?

2- Việc viết hai bức điện tín “giả”:

Bức thứ nhất, nhân danh chủ tịch Hồ Chí Minh yêu cầu vua thoái vị và bức thứ hai, nhân danh vua Bảo Đại, trả lời và yêu cầu , in trên báo Cứu Quốc số 32 (27-8-45) do ai chủ động?

3- Việc thay đổi ngày vua thoái vị, để phù hợp với việc vua trao ấn kiếm cho “do ai quyết định?

Theo T.L. trên báo số 56 (19-1-46), trong vụ “cướp chính quyền” hai ông Trần Huy Liệu và Võ Nguyên Giáp có công đầu. Theo Hoàng Văn Hoan, sau Quốc dân Đại hội (16-8) Võ Nguyên Giáp ở lại Tân Trào để hành quân lên Tuyên Quang. Không thấy Hoàng Văn Hoan nhắc đến Trần Huy Liệu trong cả hai buổi Đại hội, có thể ông Liệu ở lại Hà Nội không lên Tân Trào, vì thế mới chủ động mọi việc để có mặt ở Huế ngày 23-8 nhận ấn kiếm vua trao chăng?

Tất cả những câu hỏi này cần phải được khảo sát lại, bởi vì lịch sử không thể là những ước đoán, phỏng chừng.

***

Hợp tác và đối đầu

Tình hình chính trị trong hai năm 1945-1946 cực kỳ phức tạp, không thể diễn tả được trong một chương sách. Ở đây chúng tôi chỉ cố gắng tìm hiểu những nét chính trong giai đoạn khó khăn, hai bên quốc cộng đã từng hợp tác rồi đối đầu, có nhiều thông tin bị bưng bít, qua cái nhìn của một số chứng nhân, đặc biệt một người thuộc gia đình Nguyễn Tường đã tích cực góp phần hoạt động, đó là Nguyễn Tường Bách và của François Guillemot, sử gia Pháp.

Nguyễn Tường Bách, nhân chứng

Nguyễn Tường Bách, em út của Nhất Linh, lúc đầu không trực tiếp tham gia hoạt động cách mạng, dù đã được Nhất Linh rủ vào Đảng Hưng Việt từ năm 1938.

Năm 1944, tốt nghiệp y khoa, tháng 5-1945, ông thực sự “dấn thân”, nhận đứng tên làm Giám đốc báo cho tới tháng 8-1945 khi tờ báo đình bản. Tháng 10-1945, ông làm tờ với Khái Hưng, tháng 11-45, đổi thành tờ

Tháng 2-1946, Nguyễn Tường Bách được gọi về Tổng bộ Quốc Dân Đảng, giữ Bộ Tổ chức. Khái Hưng giữ Bộ Tuyên truyền, một mình trông coi tờ Việt Nam[10].

Sau hiệp định Sơ bộ 9-3-1946, sự liên kết giữa hai khối bắt đầu tan rã. Tháng 5-46, Hội nghị Đà Lạt thất bại, tình hình căng thẳng. Cuộc nội chiến xẩy ra. Nguyễn Tường Bách được lệnh lên Vĩnh Yên cùng với Vũ Hồng Khanh, tổ chức lại Đệ Tam chiến khu Quốc Dân Đảng. Nhưng cuộc chiến mở rộng, Quốc Dân Đảng thua trận, rút dần lên Yên Bái, rồi Lào Cai. Vũ Hồng Khanh ở lại cầm cự với Việt Minh; tháng 6-1946, Nguyễn Tường Bách được phái sang Vân Nam tìm cứu viện, rồi lưu vong ở Trung Quốc. Tháng 3-1949, ông quyết định ở lại Quảng Châu và thoát ly Quốc Dân Đảng.

Nguyễn Tường Bách là người duy nhất trong gia đình Nguyễn Tường, kể lại hành trình cách mạng của mình và đồng bạn cùng những biến đổi của thời cuộc. Ông viết làm hai lần.

Lần đầu, khi còn ở Trung Quốc, ông viết cuốn khoảng 1979-1980, gửinhóm của Nguyễn Khắc Ngữ ở Monréal, in năm 1981[11].

Năm 1988, gia đình ông di dân sang Mỹ. Năm 1995 ông cho in cuốn sách đầu tiên viết ở Mỹ: tiểu thuyết [12]

Sau đó, Nguyễn Tường Bách soạn bộ , hai cuốn, phần 1, in năm 1998, và phần II, năm 2000, đều do Thạch Ngữ xuất bản.

Ngoài ra còn phải kể đến cuốn hồi ký (2005)[13] của Hứa Bảo Liên, vợ ông, lai Hoa-Việt, sinh ở Hà Nội; quen Nguyễn Tường Bách từ khi còn là học sinh. Tháng 7-1946, Bảo Liên sang Vân Nam du học, rồi gặp lại Tường Bách, cưới nhau cuối năm 1946. Tác phẩm của Bảo Liên viết về cuộc đời trôi nổi của hai người gắn liền với thời cuộc chao đảo của hai nước Việt-Hoa, điểm những thông tin giá trị về nhóm cách mạng lưu vong.

của Nguyễn Tường Bách, Tập 1, chính là đượcviết lại và bổ sung. Tập 2, viết tiếp giai đoạn từ cuối năm 1946 đến năm 2000.

, chi tiết hơn, giọng cân nhắc hơn, nhưng một số đoạn trong bị lược bỏ, có lẽ vì e không thích hợp với độc giả di tản ở Mỹ, phần đông chống cộng.

Đối với người nghiên cứu, ngược lại, vì viết trước, nên đã ghi được những tình cảm sống động, chân thực của tác giả trước thời cuộc 1945-1946, nhất là những suy nghĩ của tác giả về đối phương là Việt Minh lúc bấy giờ.

Tùy trường hợp, chúng tôi sẽ trích dẫn cả hai bộ sách này.

Ngoài ra, xin giới thiệu bộ sách giá trị của François Guillemot , ) (, (1938-1955), Nxb Les Indes Savantes, Paris, 2012, mà chúng tôi sẽ gọi tắt là .

Đây là một công trình nghiên cứu khoa học, một tác phẩm công phu, hơn 700 trang khổ lớn, phối hợp thông tin ba phiá: Quốc gia, Việt Minh, và những tin tình báo của Pháp. Một bộ sách lịch sử đáng tin cậy, không những về các đảng mà còn soi sáng những điểm quan trọng khác trong thời kỳ cận đại này.

Thông tin đầu tiên: Nhất Linh còn sống

Năm 1943, lần đầu tiên gia đình Nguyễn Tường nhận được tin Nhất Linh, sau hơn hai năm biệt vô âm tín. Tin quan trọng này đem một nguồn hy vọng mới cho Khái Hưng, Hoàng Đạo, Nguyễn Gia Trí, vừa ra tù, biết rằng người lãnh đạo và bạn thân của họ vẫn còn sống, và có lẽ cũng là động cơ thúc đẩy Nguyễn Tường Bách thay đổi chí hướng, tham gia tích cực hơn vào hoạt động cách mạng.

Nguyễn Tường Bách viết:

“[đầu năm 1943],.”[14]

Tóm lại, Nhất Linh “mất tích” trong từ cuối 1940, đến đầu 1943 gia đình mới nhận được lá thư đầu tiên xác nhận Nhất Linh còn sống. Tiếp theo đó, lại một tin mừng khác:

“.”[15]

Khái Hưng từ khi chia tay cũng không nhận được tin gì của Nhất Linh. Sau này, năm 1945, ông thể hiện trong truyện , lúc đi trốn[16], niềm nhớ và nỗi lo sợ cho bạn:

“[Khái Hưng] [Nhất Linh] “[17]

Tại sao có sự lo sợ ấy? Bởi vì, như chúng ta đã thấy qua truyện ngắn của Hồ Lễ và Đỗ Tốn[18], những thanh niên trốn Pháp sang Tàu, năm 1941-42, rất ít người sống sót trở về. Như Băng, vợ Đỗ Tốn, cũng kể chuyện Vinh, người bạn gái, trung uý, làm việc với bà tại dinh tướng Trương Phát Khuê, đã giúp bà đào ngũ về nước: Vinh trốn sau, bị giết ở dọc đường.

Xem thêm :  Thực phẩm chức năng tiếng anh là gì, bạn có hiểu đúng về tpcn

Những điều trên đây giải thích tại sao gia đình Nguyễn Tường và Khái Hưng lo lắng trong hơn hai năm bặt tin Nhất Linh.

Những chuyển biến lịch sử

Trong ba người bị bắt cuối năm 1941, Hoàng Đạo, Nguyễn Gia Trí và Khái Hưng; Khái Hưng được về sớm nhất[19], tiếp đến Nguyễn Gia Trí, và sau cùng, Hoàng Đạo được về vào mùa thu 1943[20].

Nguyễn Tường Bách ghi lại: “”[21]

Rồi họ chờ đợi. Ngày 9-3-1945, Nhật đảo chính Pháp. Ngày 17-4-45, chính phủ Trần Trọng Kim ra đời. Ngày 5-5-1945, tự lực văn đoàn cùng một số nhà văn nhà thơ, xuất bản tờ , ủng hộ triệt để chính phủ Trần Trọng Kim, như ta đã biết[22].

Ba tháng sau.

Ngày 15-8-1945, Nhật Bản đầu hàng. Ngày 19-8-1945, Việt Minh lên nắm chính quyền.

Nguyễn Tường Bách thuật lại bối cảnh và tình cảm của Khái Hưng và ông lúc bấy giờ:

“[lúc]

.”[23]

Lúc bấy giờ Phan Kế Toại, Khâm sai Bắc bộ xin từ chức, Trần Trọng Kim muốn mời Nguyễn Tường Long thay thế, nhưng ông Long đang bị bệnh thương hàn.[24]

Hoàng Đạo bị bệnh từ cuối tháng 7-1945[25], trong lúc tình hình sôi động. Nhất Linh chưa về. Đại Việt Dân Chính gần như tan rã. Nguyễn Tường Bách viết:

“”[26].

Nhóm Tự Lực làm gì trong tình cảnh ấy?

Nguyễn Tường Bách mô tả đời sống mới:

“[Kỷ nguyên mới]

[27]

[trỏ]”[28]

Quân Trung Hoa vào Việt Nam

Ngày 9-9-45, quân đội Trung Hoa bắt đầu tới Hà Nội giải giáp quân Nhật. Tổng số sẽ là 180.000 người thuộc hai lộ quân: Vân Nam, dưới sự điều khiển của Lư Hán và Quảng Tây, dưới sự điều khiển của Tiêu Văn. Một phần bộ đội Việt Nam Quốc Dân Đảng (Việt Quốc) và Việt Nam Cách Mệnh Đồng Minh Hội (Việt Cách) cũng từ Trung Hoa về nước. Ngày 18-9-45, đại tướng Lư Hán, Tổng tư lệnh quân đội Trung Hoa đáp máy bay đến Hà Nội[29].

Hoàng Văn Đào viết: “” [của Nguyễn Xuân Tiếu] “[30]

Vũ Hồng Khanh, lãnh tụ Việt Quốc, khởi hành từ Côn Minh ngày 1-9-45, đến 15-9 về tới Lào Cai, gặp nhiều trở ngại, ngày 20-10-45 mới về tới Hà Nội. Kể từ tháng 10-45, Việt Quốc thiết lập trụ sở Trung ương công khai tại trường Tiểu học Đỗ Hữu Vị[31].

Nguyễn Tường Tam và Nghiêm Kế Tổ về tới Hà Nội cuối tháng 11-45, sau khi bản cam kết “” được ký kết, sẽ nói đến sau.

Ngày15-12-45, Việt Nam Quốc Dân Đảng (Vũ Hồng Khanh), Đại Việt Quốc Dân Đảng (Trương Tử Anh) và Đại Việt Dân Chính (của Nguyễn Tường Tam) áp dụng nghị quyết thống nhất ba đảng đã ký tháng 5-1945 ở Trùng Khánh, dùng một tên chung là . Đảng bộ chia hai bộ phận: bí mật và công khai. Từ nay Đại Việt nằm trong phần hoạt động bí mật, lãnh tụ Trương Tử Anh không ra mặt trên chính trường. Về mặt công khai, cơ quan đấu tranh chính trị của là nhật báo và tuần báo [32]

Hoàng Văn Hoan lo ngại:

“”[33].

Và ông giải thích sự khôn khéo của chủ tịch Hồ Chí Minh, trước hoàn cảnh:

“”[34]

Việc ” “mà Hoàng Văn Hoan nói ở đây chính là việcchủ tịch Hồ Chí Minh bị bắt, và lo liệu để ông được tha, xảy ra vào cuối tháng 9-45.

Theo Đoàn Thêm: “[35][36]

Những tin đồn này, không phải là vô bằng cớ.

Francois Guillemot, ghi lại tin tức của tình báo Pháp:

“”[37]

Tình hình nguy hiểm của Hồ Chí Minh, cũng được cựu hoàng Bảo Đại kể lại:

.”[38]

Hoàng Văn Hoan viết tiếp:

.”[39]

Hoàng Văn Hoan cũng không quên nhắc lại công lao của Tiêu Văn đối với Việt Minh:

“”[40]

Tất cả những điểm này đều đúng như sự việc đã xảy ra, và giải thích tại sao Hồ Chí Minh chấp nhận dễ dàng việc lập chính phủ Liên hiệp và việc ông giải thể Đảng Cộng sản.

Ngày 11-11-45: Đảng Cộng sản Đông dương tuyên bố tự giải tán, trở thành Hội Nghiên cứu chủ nghĩa Mác ở Đông Dương.

Ngày 19-11-45, một văn kiện thứ nhất, ký giữa ba bên: Việt Quốc, Việt Cách và Việt Minh, đồng ý một giữa ba đảng do Nguyễn Hải Thần, Vũ Hồng Khanh và Hồ Chí Minh đồng ký.

Ngày 24 tháng 11 năm 1945, một văn kiện thứ nhì, được gọi là , mở rộng hơn với sáu đại biểu ký nhận:

Ngày 1-1-46 Chính phủ ra mắt tại nhà Hát Lớn Hà Nội.[41]

Chính phủ , chỉ có ba ghế dành cho đối lập là: Nguyễn Hải Thần, Nguyễn Tường Long và Trương Đình Trí.

Trên báo Việt Nam, đối lập đòi một Chính phủ Liên hiệp đúng nghiã.

Ngày 24-2-46, thỏa hiệp thành lập được ký tại sứ quán Trung Hoa[42].

Ngày 2-3-1946, Chính phủ ra mắt tại nhà Hát Lớn[43].

Chính phủ thực sự có các thành phần đảng phái khác nhau.

Theo François Guillemot:

“”[44]

Vẫn theo François Guillemot, một note của tình báo Pháp [Trung tá Reption-Preneuf, Chủ nhiệm Phòng nhì (deuxième bureau)] cho biết sắp có cuộc đảo chính đưa Nguyễn Tường Tam lên nắm chính quyền. Một nguồn khác nói đến Trần Trọng Kim hay cố vấn Vĩnh Thụy. Nhờ Tiêu Văn, giải pháp lật đổ Hồ Chí Minh được bỏ qua, nhưng vị trí của Hồ Chí Minh lúc đó khá bấp bênh[45].

Một mặt khác, Tưởng Giới Thạch bước vào tình thế phải đương đầu với Mao Trạch Đông, đang mạnh dần, nên đã điều đình với Pháp, để rút quân về: Ngày 28-2-46, Pháp-Hoa ký hiệp ước Trùng Khánh: Pháp trả lại Tàu một phần lãnh địa đã chiếm và Tàu thừa nhận chủ quyền Pháp ở Đông Dương. Quân Tưởng sẽ rút lui từ ngày 1 đến 15-3-46 để cho quân Pháp tiến ra Bắc. Có thể cả hai bên quốc cộng ở Việt Nam lúc đó, nhiều người chưa biết có hiệp ước Trùng Khánh.

Chính phủ Liên Hiệp Kháng Chiến

Ngày 6-1-46, bầu cử quốc hội. Tất cả có 356 ghế. Các đảng phái quốc gia chống tổng tuyển cử, không tham dự.

Ngày 2-3-1946, Quốc hội họp khoá đầu ở nhà Hát Lớn Hà Nội, chấp thuận dành 70 ghế cho khối quốc gia (do điều đình), nhận sự từ chức của Chính phủ Lâm thời (thành lập ngày 1-1- 46) và xác định thành phần Chính phủ Liên Hiệp Kháng Chiến. Đồng thời thành lập:

– Ban Cố vấn tối cao do Vĩnh Thụy làm Chủ tịch.

– Uỷ ban kháng chiến gồm 9 uỷ viên, Chủ tịch Võ Nguyên Giáp, Phó Chủ tịch Vũ Hồng Khanh – Uỷ ban Thường trực Quốc hội, Chủ tịch là Nguyễn Văn Tố.

Thành phần Chính phủ Liên hiệp Kháng chiến gồm có:

Chủ tịch: Hồ Chí Minh; Phó Chủ tịch: Nguyễn Hải Thần; Ngoại giao: Nguyễn Tường Tam (Việt Quốc); Nội vụ: Huỳnh Thúc Kháng (Trung lập); Kinh tế: Chu Bá Phượng (Việt Quốc); Tài chính: Lê Văn Hiến (Việt Minh); Quốc phòng: Phan Anh (Trung lập); Y tế: Trương Đình Trí (Việt Cách); Giáo dục: Đặng Thai Mai (Việt Minh); Tư pháp: Vũ Đình Hoè (Đảng Dân chủ); Công chính: Trần Đăng Khoa (Đảng Dân Chủ); Canh nông: Bồ Xuân Luật (Việt Cách)[46].

Đây là một chính phủ liên hiệp đúng nghĩa.

Theo Nguyễn Tường Bách, quốc hội giữ lại làm quốc kỳ và bài làm quốc ca, ông phân tích tình hình lúc bấy giờ:

[đoàn kết][47][Chúng tôi in đậm] “[48]

Theo François Guillemot, về phía đảng bộ Việt Minh, một bản thông cáo của Uỷ ban Trung ương, được phát hai ngày trước khi khi ký hiệp định Sơ bộ. Khoản VIII, nhấn mạnh:

“” Khoản IX, điều 2, ghi:

“”[49]

Báo

Từ ngày Việt Minh lên nắm chính quyền ngày 19-8-45, nhóm Tự Lực không động tĩnh gì trong gần hai tháng, có lẽ còn chờ tin tức Nhất Linh và Hoàng Đạo đang ốm thương hàn.

Nhưng đến giữa tháng 10-45, họ có quyết định ra báo, đó là tờ , số 1 ra ngày 22-10-45, do Nguyễn Trọng Trạc, một đảng viên Đảng Xã hội (ôn hoà) làm Giám đốc, Trần Khánh Giư, chủ bút. Tờ báo này có tính cách thăm dò, chưa ra mặt chống đối Việt Minh, Nguyễn Tường Bách viết:

“[Trạc][thời báo].”[50]

ra đến số 20 (14-11-45), đột nhiên trở thành tờ , Số 1 (15-11-45), in hai văn bản quan trọng là và trên trang nhất.

Nguyễn Tường Bách giải thích:

“”[51]

Dĩ nhiên là Nguyễn Trọng Trạc phản đối và đòi bồi thường thiệt hại.

Tờ , không đề tên chủ bút, chủ nhiệm, và trị sự. Tuy nhiên, theo Nguyễn Tường Bách, ông được “”, và ông viết:

“”[52]

Nội dung tờ báo đối lập đầu tiên

Tờ phản ảnh tình trạng gay go lúc bấy giờ giữa hai bên quốc-cộng.

(15-11-1945) in lên đầu, đây là một bản “hiệu triệu quốc dân”, ý nói: sau bao nhiêu năm tranh đấu bí mật “”. Gợi lại sự hy sinh của những vị anh hùng trong quá khứ: Nguyễn Thái Học, Phó Đức Chính, Ký Con, Xứ Nhu, Lê Hữu Cảnh và các anh em khác; và giới thiệu hai lãnh tụ mới: Nguyễn Hải Thần và Vũ Hồng Khanh (lúc đó Nguyễn Tường Tam chưa về); chỉ trích Việt Minh “[tháng 9 và tháng 10-45]”, “”… Và đề nghị một “”…

Tiếp đó là bài với chủ đích “chiêu hồi”, kéo người “bên kia” về với mình. Bài thứ ba, đóng khung, bên phải, tựa đề:””, nêu ra chín điểm kêu gọi đoàn kết giữa các chính đảng để đánh Pháp.

(17-11-45), giọng đặc biệt công kích, với hai cái tựa: “” và “”.

(18-11-45), giọng hòa hoãn: “”, vì lúc đó Tiêu Văn đã bắt đầu “buộc” hai bên hoà giải.

(25-11-45) số đặc biệt về tinh thần với những cái tựa: … Đặc biệt in lại hai văn bản quan trọng, có tính cách lịch sử:

– Văn bản thứ nhất, ký ngày 19-11-45, giữa ba bên: Việt Quốc, Việt Cách và Việt Minh.

[mưu kế]

.”

– Văn bản thứ hai là , tức , là bản cam kết ngày 24 tháng 11,có sáu đại biểu ký nhận:

[Nguyễn Tiến Hỷ]

Hai văn bản này đánh dấu sự cộng tác đầu tiên giữa hai bên quốc cộng. Tiếc rằng sự đoàn kết và những điều hứa hẹn trong hai văn bản lịch sử này chỉ mấy tháng sau là bị bỏ qua.

(7-12-45), trở tại trở lại giọng bút chiến, đả phá chương trình do chính phủ Hồ Chí Minh đề ra, với bài

Cuối tháng 12-45, khi việc thành lập Chính phủ Liên hiệp Lâm thời, sắp hoàn tất, (26-12-45), đăng bài:Và (30-12-45) có bài góp ý với chính phủ mới

clip_image002

(1-1-46)

(1-1-46) đăng tít lớnVà (3-1-46) có bài tường thuật

Buổi lễ “long trọng” này không khoả lấp được những đòi hỏi của Việt Quốc và Việt Cách, tựu trung họ chỉ có ba ghế: Nguyễn Hải Thần (Phó Chủ tịch), Nguyễn Tường Long (Bộ trưởng Kinh tế) và Trương Đình Trí (Bộ trưởng Y tế), trong một chính phủ 16 ghế.

Xem thêm :  Top 8 đầm dạ hội sang trọng, tạo sức hút “huyền bí” cho phái đẹp

Nửa tháng sau, báo (16-1-46), in chân dung Nguyễn Tường Tam, với lời giới thiệu long trọng:

“”.

clip_image004

Chân dung Nguyễn Tường Tam trên số 53 (16-1-46)

Báo giới thiệu chân dung nhà cách mạng Nguyễn Tường Tam, lưu vong 5 năm, nay đã trở về để Thực ra, theo Nguyễn Tường Bách, cuối tháng 11-45, Nguyễn Tường Tam đã về đến Hà Nội, nhưng đến ngày 16-1, mới ra mắt công khai.

Báo (24-1-46), giới thiệu Nghiêm Kế Tổ, với những lời nồng nhiệt không kém: “”Và (25-1-46) in bức vẽ phác Nghiêm Kế Tổ. Đây cũng là một tuyên truyền chính trị, vì Nghiêm Kế Tổ cũng đã về nước từ cuối tháng 11, nay mới công khai ra mặt.

Kể từ hạ tuần tháng 1-46, báo trở lại vai trò của một tờ báo đối lập quyết liệt hơn.

(18-1-46), có bài chỉ trích sự bất lực của Trần Huy Liệu trong chức Bộ trưởng Tuyên truyền, Chu Văn Tấn được đưa ra làm Bộ trưởng Quốc phòng để làm vì, bởi vì Võ Nguyên Giáp kiêm cả hai bộ Nội vụ và Quốc phòng. Và bài bài này tố cáo Việt Minh đánh úp Quốc Dân Đảng ở Việt Trì.

(19-1-46), có bài:

Bài này vẫn công kích Trần Huy Liệu và Võ Nguyên Giáp, được coi là có công nhất trong vụ “cướp chính quyền”, nhưng ” (…) ” (ý nói ông Chu Văn Tấn làm Bộ trưởng Quốc phòng “bù nhìn”, ông Giáp kiêm cả Nội vụ lẫn Quốc phòng) “.” T.L.

Không cần phải đoán cũng biết T.L. là Tường Long, qua giọng văn cứng rắn của một chính trị gia, và cũng chỉ có Nguyễn Tường Long mới đủ tư thế chính trị để chạm đến hai ông Giáp, Liệu. Hai người này đã có chân trong hai chính phủ đầu tiên của cụ Hồ: Chính phủ Lâm thời (30-8-45) và chính phủ Liên hiệp Lâm thời (1-1-46). Rất có thể vì bài này mà tới khi thành lập Chính phủ Liên hiệp Kháng chiến, cả hai ông Liệu-Giáp đều rút lui.

số 62 (26-1-46) đòi hỏi việc thành lập .

Tết Bính Tuất (30-1-1946) ngoài ba bài của Hồ Lễ, của Nguyễn Tường Tam và của Đỗ Tốn, đã giới thiệu trong chương trước, còn có truyện ngắn của Khái Hưng; của Nguyễn Hải Thần; tổng kết của Nguyễn Tường Bách; của Vũ Hoằng, và của Xuân Tùng.

Đầu tháng 3-1946, có biến cố quan trọng là việc thành lập

(3-3-46) đưa tít: Và trang trọng đăng danh sách Chính phủ Liên hiệp Kháng chiến, thành lập ngày 2-3-46.

(5-3-46) hô hào:

Ngày 9-3-1946, Hiệp định Sơ bộ được ký kết.

số 93 (9-3-46) lập tức có bài . Những số báo tiếp theo tiếp tục chống đối bản hiệp ước và nêu ra những ý muốn không tốt của người Pháp.

số 97 (14-3-46) sự chống đối Pháp trỏ nên quyết liệt vói bài: Bài này ký tên Vũ Hoàng nêu lên 5 điểm Pháp đã vi phạm hiệp định sơ bộ và yêu cầu chính phủ tìm cách đối phó, nếu không bản hiệp định coi như đã bị xé.

(15-3-46) Có bài:

(17-3- 46), có bài:Và đăng Bài diễn văn này phản đối thái độ của Pháp, mặc dù đã ký Hiệp định Sơ bộ nhưng vẫn tiếp tục gây hấn ở Trung bộ và Nam bộ, ngăn cản việc tổ chức hoà đàm [ý nói việc tổ chức hội nghị Đà Lạt] để dẫn đến một nước Việt Nam độc lập trong khối Liên Hiệp Pháp, như đã giao ước.

(31-3-46): Có bài bài nàychắc Hoàng Đạo viết,tha thiết nói với quốc dân về sự tùy cơ ứng biến trong chính sách của thực dân, và khi nào dân tộc ta đoàn kết thì thắng, khi nào dân tộc ta chia rẽ thì thất bại.

Và bài: Bài này muốn vạch trần lý do trì hoãn việc tổ chức hội nghị trù bị Đà Lạt của Đó là số báo Việt Nam cuối cùng chúng tôi có được.

Tựu trung, là tờ báo đối lập có trách nhiệm, thường chĩa mũi dùi vào thực dân Pháp hơn là chống chính phủ. Dù có đả kích hai ông Giáp-Liệu, nhưng không động tới cụ Hồ.

Sau này, Nguyễn Tường Bách viết cảm tưởng của ông về Chủ tịch Hồ Chí Minh trong hồi ký, như sau:

“.[53]

Tờ ra đến đầu tháng 12-46 thì ngừng, theo quảng cáo in trên báo

Nguyễn Tường Bách phụ trách tờ cùng với Khái Hưng đến tháng 2-46, thì được chuyển lên làm ở Trung Uơng đảng bộ. Một mình Khái Hưng phụ trách tờ , có giúp sức. là một người khác, không phải Khái Hưng như hầu hết mọi người đều lầm tưởng.

Đến tháng 5-46, Khái Hưng cho ra thêm tờ tuần báo lấy tên là , số 1 ra ngày 20-5-46, với sự cộng tác của Nhượng Tống. sẽ là tờ báo sau cùng của Khái Hưng, số chót 28 ra ngày 16-12-46. Ngày hôm sau, 17-12-46, Khái Hưng đưa gia đình về quê vợ, làng Dịch Diệp, Nam Định. Từ đó ông không trở lại văn đàn nữa. Về những ngày tháng và các tác phẩm sau cùng của Khái Hưng, chúng tôi sẽ trình bày trong chương tới.

Hiệp định sơ bộ và hậu quả

Ngày 6-3-1946, Hiệp định Sơ bộ được ký kết giữa Hồ Chí Minh, Vũ Hồng Khanh và Sainteny với hai điều khoản chính:

1- Pháp nhìn nhận Việt Nam là một nước tự do, tự trị, trong Liên Bang Đông Dương và Liên Hiệp Pháp.

2- Việt Nam sẵn sàng đón tiếp quân Pháp đổ bộ thay thế quân đội Trung Hoa.

Ngày hôm sau, 7-3-46, một cuộc mít tinh được tổ chức trước nhà Hát Lớn để giải thích về việc ký Hiệp định Sơ bộ, Võ Nguyên Giáp và Vũ Hồng Khanh lên tuyên bố vắn tắt, Hồ Chí Minh chấm dứt bài diễn văn bằng lời thề nổi tiếng: “”[54]François Guillemot viết:

“[Hồ Chí Minh]”[55].

Theo Võ Nguyên Giáp thì kẻ ném lựu đạn quên mở chốt, bị bắt ngay và việc này xảy ra trước khi đọc diễn văn[56].

Nguyễn Tường Bách viết:

“”[57]

Võ Nguyên Giáp viết:

“”[58].

François Guillemot cho biết: ” [in đậm trong nguyên bản]. “[59].

Sau Hiệp định Sơ bộ, phản ứng của đối lập tức thời và mãnh liệt:

Ngày 13-3-46, Nguyễn Hải Thần và quân đội Việt Cách rút về chiến khu Lạng Sơn trong vùng Thất Sơn, Yên Lạp, Thái Nguyên, thiết lập chính phủ ly khai; quân đội Việt Cách đặt dưới sự điều khiển của Vũ Kim Thành có khoảng 3600 người võ trang, trong có 800 người Nhật, hoạt động trong vùng từ Móng Cái đến Quảng Yên[60].

Việt Quốc tổ chức biểu tình chống sự đổ bộ của quân Pháp và đòi chính phủ Kháng chiến phải kháng Pháp thực thụ. Vũ Hồng Khanh ký Hiệp định Sơ bộ bị các đồng chí “hỏi tội”. Việc tham dự chính phủ Liên hiệp của Nguyễn Tường Tam và Nguyễn Tường Long bị phê phán là ngây thơ.

Ngày 16-3-46, Hồ Chí Minh cử Nghiêm Kế Tổ cầm đầu phái đoàn Việt Nam sang Trung Hoa, với nhiệm vụ hòa hiếu. Cố vấn Vĩnh Thụy đi cùng với tư cách du lịch.[61] Nghiêm Kế Tổ lúc đó là Thứ trưởng Ngoại giao, đồng chức với Phạm Văn Đồng; Nguyễn Tường Tam là Bộ trưởng.

Quân Pháp đến Hà Nội

Ngày 5-10-1945, Tướng Leclerc tới Sài Gòn và tuyên bố sẽ bình định Nam bộ.

Sáu tháng sau, quân Leclerc ra tới Hà Nội.

15 giờ ngày 18-3-46, đoàn quân viễn chinh Pháp đầu tiên trở lại Hà Nội, gồm 2.200 binh sĩ và 200 chiến xa, giữa sự vỗ tay hoan hô của người Pháp.

Bùi Diễm viết:

“”[62]

Guillemot viết: “”[63]

Cuối tháng 3-46, đại diện Việt Quốc và Việt Cách họp chung, chấp nhận nguyên tắc lật đổ chính phủ Hồ Chí Minh, nếu chính phủ này đầu hàng Pháp.

Ngày 25-4-46, một buổi họp bí mật ở trụ sở Quốc Dân Đảng, 80 Quan Thánh, giữa Việt Quốc và Việt Cách, bàn về vấn đề vũ khí khả dụng trong trường hợp bạo động.

Ngày 20-5-46, 500 thành viên Quốc Dân Đảng từ Phúc Yên chuyển về Hà Nội, phân phối trong các trụ sở Quốc Dân Đảng ở Đỗ Hữu Vị, Duviller, đường Quần ngựa[64].

Hội nghị Đà Lạt

Tuy nhiên, Nguyễn Tường Tam vẫn tiếp tục giữ chức Bộ trưởng Ngoại giao trong chính phủ Liên Hiệp. Việc điều đình với Pháp được Hồ Chí Minh trù liệu trong khuôn khổ hội nghị trù bị Đà Lạt. Nguyễn Tường Tam được cử làm trưởng phái đoàn, Phạm Văn Đồng làm phó, hội nghị Đà Lạt họp từ 19-4-46 đến 11-5-46.

Hội nghị Đà Lạt thất bại. Nguyễn Tường Bách nhớ lại:

[65]

Không còn ảo tưởng gì về chủ ý của Pháp, Nguyễn Tường Tam từ chối không tham dự hội nghị Fontainbleau. Nguyễn Tường Bách viết về tình hình nội bộ Quốc Dân Đảng:

“”[66]

Nội chiến và sự thất bại của Việt Nam Quốc Dân Đảng

Bị đẩy đến đường cùng, không còn lựa chọn nào khác giữa đánh Pháp hay đánh lẫn nhau, Nguyễn Tường Bách kể:

“[Vĩnh Yên, Việt Trì, Phú Thọ, Yên Bái] “.[67]

Nguyễn Tường Bách “lên chiến khu” với vài vệ sĩ trong “”, cải trang bằng binh phục màu vàng xanh của quân Tưởng để lọt qua các trạm gác của Việt Minh[68]

Ông viết:””

Nguyễn Thị Thế nhớ lại tình hình căng thẳng lúc bấy giờ:

[Hoàng Đạo]

[Tường Bách].”[70]

Nguyễn Tường Bách viết về cuộc nội chiến:

[71]

Về tình hình quân đội hai bên, Tường Bách viết: “[Việt Quốc][Việt Minh]”.[72]

Việt Quốc thắng một trận nhỏ ở Việt Trì, nhưng bị Việt Minh bao vây, cô lập, đành phải liều mạng mở đường tiến về Phú Thọ, lại được tin Phú Thọ đã về tay Việt Minh, Vũ Hồng Khanh và Nguyễn Tường Bách đành quyết định rút lên Yên Bái.

Tháng 6-1946, Nguyễn Tường Long còn ở trong chính phủ Liên Hiệp, đang giữ chức Bộ trưởng Kinh tế, là đại biểu Quốc Dân Đảng, cùng với Tướng Hoàng Văn Thái, đại biểu Việt Minh, lên chiến khu điều đình giảng hoà hai bên. Hai anh em gặp lại nhau trong một hoàn cảnh kỳ lạ:

“[Văn Thái]

” Anh Long cho biết: “”[73]

Theo tin này thì Nguyễn Tường Tam vẫn còn ở Hà Nội tới tháng 6-46.

Liên tục bị Việt Minh tấn công, “”,lợi dụng tình thế hỗn loạn, Hoàng Văn Thái trốn thoát. Cuối cùng đoàn quân đến được Yên Bái.

“”[74]

“”[75]

Trong tình cảnh tuyệt vọng, Nguyễn Tường Long được phái đi Côn Minh gặp Nguyễn Tường Tam cùng lo việc ngoại giao với Trung Hoa. Trong khi ấy, tình hình Quốc Dân Đảng ngày càng nguy ngập: Vĩnh Yên ra hàng, Yên Bái bị bao vây chặt… “mà không có tin tức ngoại viện ở Côn Minh, Nguyễn Tường Bách viết: “”[76]

Xem thêm :  Chỉnh sửa ảnh miễn phí

Cuối tháng 7-1946 Nguyễn Tường Bách cùng 6 người vượt cầu sắt Lào Cai-Hà Khẩu, sang Trung Hoa, ông viết về bước đường cùng của Quốc Dân Đảng:

“.”[77]

Vì không có những yếu tố này và thêm sự phân liệt nội bộ, Quốc Dân Đảng hoàn toàn thất bại, những người sống sót phần lớn chạy sang Tàu.

François Guillemot kết luận: “.”[78]

Vụ Ôn Như Hầu

Ôn Như Hầu là vụ thanh trừng đối lập, nhưng Hoàng Văn Hoan, không viết một chữ về vụ này. Hoàng Văn Đào và Võ Nguyên Giáp đối chọi nhau. François Guillemot, sử gia Pháp, là người ngoại cuộc, đã nghiên cứu kỹ vấn đề. Chúng tôi ưu tiên dùng thông tin của ông.

Ôn Như Hầu là tên phố, ở số 9[79], có một trụ sở của Việt Nam Quốc Dân Đảng. Trong hai ngày 12 và 13-7-46, Việt Minh tấn công vào các trụ sở của Quốc Dân Đảng ở Hà Nội và bắt một số người đưa đi mất tích và trình bày “tang chứng” Việt Nam Quốc Dân Đảng làm tiền giả, cướp của, giết người, v.v. trước báo chí.

Về nguyên nhân, François Guillemot viết:

“QĐND, 1974, t. 207).”[80]

Thu thập tài liệu nhiều phía, đặc biệt tình báo Pháp đã tịch thu được những tài liệu mật của Quốc Dân Đảng, François Guillemot đưa ra những thông tin sau đây:

“[dự hội nghị Fontainebleau].[inđậm trong nguyên bản][ngày 1-6][Quốc Dân Đảng]:”.

“”.

[81]

Mặc dù quân đội Trung Hoa đã rút lui, hoạt động của Mặt trận Quốc Dân Đảng vẫn còn vững mạnh và nguy hiểm, bởi từ nay, họ đã lui vào bóng tối. Vì Vũ Hồng Khanh đã ở trong chính phủ Liên Hiệp bên cạnh Võ Nguyên Giáp và đã ký hiệp định sơ bộ 6-3-46, Trương Tử Anh lãnh đạo Mặt trận Quốc Dân Đảng. Sự rạn nứt của hai đảng cũng bắt đầu từ đấy.

Những bản báo cáo của Công An Việt Minh được lưu hành ngay từ tháng 5-1946, đã loan báo một cuộc phá hoại có tầm cỡ, đang được chuẩn bị dưới sự điều khiển của Trương Tử Anh, đảng trưởng Đại Việt Quốc Dân Đảng. Cuối cùng, cuộc binh biến được dự trù vào ngày 14-7-1946.[82]

Về phiá Việt Minh, Võ Nguyên Giáp cùng với Trần Quốc Hoàn, tổ chức kế hoạch “”.

Võ Nguyên Giáp viết: “”[83]

François Guillemot viết:

[84] [1946],”[85]

François Guillemot viết tiếp:””[86].

Chiến dịch Ôn Như Hầu tiếp tục đến cuối năm 1946, khi chiến tranh Pháp Việt bùng nổ.

Theo , tại Hà Nội, 40 sào huyệt Mật trận Quốc Dân Đảng bị phá huỷ[87].

Guillemot viết: “”[88]

“[đảng trưởng Đại Việt Quốc Dân Đảng][1946],[đảng trưởng Đại Việt Duy Dân]”.[89]

Vai trò của Pháp trong chiến dịch Ôn Như Hầu là gì?

Theo François Guillemot, Jacques Raphael-Leygues, Uỷ viên hải quân Đông Dương từ 1945 tới 1950, tìm cách giải mã thái độ của hai ông tướng Salan và Valluy đối với Việt Minh; trong hồi ký, Raphael-Leygues viết: “[1946], [in đậm trong nguyên bản]”

Guillemot viết tiếp: “[phụ tá Tướng Valluy][1946] [in đậm trong nguyên bản].[90].

(Còn tiếp)

Thụy Khuê

thuykhue.free.fr

[1] Đoàn Thêm trong , trang 11, ghi: “”. Câu này, có điểm đúng: , vì trùng hợp với thông tin của Hoàng Văn Hoan và của cựu hoàng trong hồi ký (tuy ông không ghi rõ ngày, nhưng cho biết việc này xảy ra trước ngày 22-8). Còn câu “có thể Đoàn Thêm phỏng theo những tên tuổi: Nguyễn Xiển, Nguyễn Văn Huyên, Ngụy Như Kontum, Hồ Hữu Tường, ký dưới bản điện tín được in trên báo .

[2] Hoàng Văn Hoan, trang 254.

[3] Hoàng Văn Hoan, , trang 255-257.

[4] Đây là chính phủ đầu tiên của nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hoà:

Trần Huy Liệu và Nguyễn Văn Xuân trước là đảng viên Việt Nam Quốc dân đảng, sau gia nhập Đảng Cộng sản Đông Dương (Giọt nước trong biển cả, trang 258-259).

[5] Hoàng Văn Hoan, , trang 257-259.

[6] Bảo Đại, , trang 186. Xem chương: .

[7] Bảo Đại, trang 183.

[8] Phạm Khắc Hoè, , Nxb Hà Nội, 1983, trang 68

[9] Bảo Đại, , trang 198.

[10] , tập 1; Nxb Thạch Ngữ, Hoa Kỳ, 1998, trang 223.

[11] Cuốn sách này, nguyên tên đầy đủ là – , nhưng khi in Nguyễn Khắc Ngữ đã bỏ những chữ , nên tác giả có ý trách. Nhưng công bình mà xét, Nguyễn Khắc Ngữ có lý, bởi vì cuốn không chỉ viết về gia đình Nguyễn Tường, mà còn là một cuốn hồi ký lịch sử viết về giai đoạn tranh chấp quốc-cộng 1945-1946, qua cái nhìn của một người đã từng ở trong Việt Nam Quốc Dân Đảng, có thái độ ôn hoà và trung thực. Tác phẩm ngừng ở năm 1949, khi Nguyễn Tường Bách quyết định ở lại Quảng Châu. Cô đọng, viết hay, nhiều đoạn ngỏ rõ tình cảm của tác giả trước mỗi sự kiện lịch sử, trước đối phương, lời lẽ tự nhiên, chân thật.

[12] Tác phẩm này, dù được tiếp đón nồng hậu lúc mới ra đời, cũng không mang lại giá trị mong đợi về văn chương, và cũng chưa tạo được không khí lịch sử. Những nhân vật thường mờ nhạt, người đọc khó đoán được ai là ai, làm việc gì, điều mà người ta thường chờ đợi khi đọc tiểu thuyết thời sự lịch sử.

[13] Do tác giả xuất bản năm 2005, tại California, Hoa Kỳ.

[14] , cuốn 1, trang 141.

[15] , cuốn 1, trang 141.

[16] Từ ngày 16- 9 đến ngày 31-10- 41, xem chương

[17] Khái Hưng, , Ngày Nay Kỷ Nguyên Mới, số 4, 26-5-45.

[18] Chúng tôi đã giới thiệu trong chương .

[19] Trần Khánh Triệu, , Văn số 22 (15-11-64) số tưởng niệm Khái Hưng, Sài Gòn, trang 26.

[20] Theo Hứa Bảo Liên, , hồi ký, tác giả xuất bản, California, 2005, trang 59.

[21] , cuốn 1, trang 141.

[22] Xem chương: .

[23] Nguyễn Tường Bách, , nhóm Monréal, 1981, trang 69.

[24] Trần Trọng Kim, , Việt Books in lại, California, 2010, trang 85.

[25] Nguyễn Tường Bách, , cuốn 1, trang 160.

[26] Nguyễn Tường Bách, , cuốn 1, trang 186.

[27] Nguyễn Tường Bách, , trang 70.

[28] Nguyễn Tường Bách, , trang 72, 73.

[29] Đoàn Thêm, , trang 13.

[30] Hoàng Văn Đào, trang 242.

[31] Hoàng Văn Đào, trang 240- 241-242.

[32] Hoàng Văn Đào, t. 242-244.

[33] Hoàng Văn Hoan, , trang 265.

[34] Hoàng Văn Hoan, , trang 270.

[35] Tướng Long Vân muốn nổi loạn chống chính phủ Trùng Khánh.

[36] Đoàn Thêm, , trang 14.

[37] François Guillemot, trang 319.

[38] Bảo Đại, trang 213.

[39] Hoàng Văn Hoan, , trang 266-267.

[40] Hoàng Văn Hoan, , trang 271.

[41] Đây là chính phủ thứ hai của nước Việt Nam Dân Chủ Công Hoà, tức (1-1-46): Chủ tịch kiêm Bộ trưởng Ngoại giao: Hồ Chí Minh; Phó Chủ tịch: Nguyễn Hải Thần, Nội vụ: Võ Nguyên Giáp; Tuyên truyền: Trần Huy Liệu; Quốc phòng: Chu Văn Tấn; Thanh niên: Dương Đức Hiền; Kinh tế: Nguyễn Tường Long; Xã hội: Nguyễn Văn Tố; Tư pháp: Vũ Trọng Khánh; Y tế: Trương Đình Tri; Giao thông công chánh: Đào Trọng Kim; Lao động: Lê Văn Hiến; Tài chánh: Phạm Văn Đồng; Giáo dục: Vũ Đình Hòe; Canh nông: Cù Huy Cận; Không bộ: Nguyễn Văn Xuân.

[42] Hoàng Văn Đào, t. 255. Guillemot, ,t. 321. Hoàng Văn Hoan, t. 268.

[43] Đây là Chính phủ thứ ba của nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hoà, tức : Chủ tịch: Hồ Chí Minh; Phó chủ tịch: Nguyễn Hải Thần; Ngoại giao: Nguyễn Tường Tam; Kinh tế: Chu Bá Phượng; Y tế: Trương Đình Tri; Giáo dục: Đặng Thai Mai; Tài chính: Lê Văn Hiến, Tư pháp: Vũ Đình Hòe; Giao thông công chánh: Trần Đăng Khoa, Nội vụ: Huỷnh Thúc Kháng; Quốc phòng: Phan Anh; Canh nông: Bồ Xuân Luật.

[44] François Guillemot, , trang 317.

[45] François Guillemot, , t. 317, 318.

[46] Hoàng Văn Đào, ,trang 256. Hoàng Văn Hoan, , trang 268.

[47] Đến đầu tháng 2/46 quân Pháp đã chiếm cả miền Nam và một phần miền Trung, từ vĩ tuyến 16 trở vào.

[48] Nguyễn Tường Bách, , t. 84, 85.

[49] Guillemot, , t. 323.

[50] , trang 73.

[51] Nguyễn Tường Bách, , cuốn 1, trang 193-194.

[52] Nguyễn Tường Bách, , cuốn 1, trang 194.

[53] Nguyễn Tường Bách, trang 81.

[54] Võ Nguyên Giáp, , trang 197; Guillemot, trang 325.

[55] François Guillemot, t. 325.

[56] Võ Nguyên Giáp, , t. 195.

[57] Nguyễn Tường Bách, , t. 86.

[58] Võ Nguyên Giáp, t. 187.

[59] François Guillemot, t. 322.

[60] François Guillemot, t. 324-325.

[61] Nghiêm Kế Tổ, , Mai Lĩnh, 1954, t. 95-97; Bảo Đại, , trang 237.

[62] Bùi Diễm, Cơ sở xuất bản Phạm Quang Khai, 2000, t. 75.

[63] François Guillemot, t. 328.

[64] François Guillemot, t. 332-333.

[65] Nguyễn Tường Bách, , t. 86.

[66] Nguyễn Tường Bách, t. 93.

[67] Nguyễn Tường Bách, trang 90.

[68] Nguyễn Tường Bách, , t. 90.

[69] Nguyễn Tường Bách, , t. 91.

[70] Nguyễn Thị Thế, ,t. 136-137.

[71] Nguyễn Tường Bách, , t. 93, 94, 95.

[72] Nguyễn Tường Bách, , t. 95.

[73] Nguyễn Tường Bách, , t. 98, 99.

[74] Nguyễn Tường Bách, , t.101, 107.

[75] Nguyễn Tường Bách, t.109.

[76] Nguyễn Tường Bách, , t.110.

[77] Nguyễn Tường Bách, , t. 111, 126.

[78] François Guillemot, , t. 328.

[79] Hoàng Văn Đào ghi số 9, các tài liệu Việt Minh ghi số 7.

[80] François Guillemot, , t. 332.

[81] François Guillemot, , t. 333- 334.

[82] François Guillemot, , t. 334.

[83] Võ Nguyên Giáp, t. 104.

[84] Phái đoàn Việt Nam tham dự Hội nghị Fontainebleau, ngoài Phạm Văn Đồng, trưởng phái đoàn, còn có Hoàng Minh Giám, Phan Anh, Tạ Quang Bửu, Nguyễn Văn Huyên, Trịnh Văn Bính… Chủ tịch Hồ Chí Minh đi với tư cách là khách do chính phủ Pháp mời. Ngày 31-5-1946, phái đoàn lên máy bay. Tới Pháp gặp lúc đang thay đổi chính phủ, phái đoàn tạm trú ở Biarritz. Ngày 23-6 có chính phủ mới của Georges Bidault. Hội nghị họp tại Fontainebleau, bắt đầu từ ngày 6-7-1946, trong một tuần không đạt được kết quả gì, rút cục phải bỏ dở. Đêm 14-9-46, Chủ tịch Hồ Chí Minh đến tư dinh của Bộ trưởng Ngoại giao Marius Moutet, ký một bản Tạm ước (Modus vivendi). Ông trở về bằng đường thuỷ. Ngày 20-10-46, ông về đến Hải Phòng. Trong suốt thời gian từ tháng 6 đến tháng 10, Võ Nguyên Giáp chỉ huy chiến dịch Ôn Như Hầu.

[85] François Guillemot, ,t. 335.

[86] François Guillemot, , t. 339.

[87] François Guillemot, , t. 343.

[88] François Guillemot, , t. 343-344.

[89] François Guillemot, , t. 354.

[90] François Guillemot, , t. 357, 358.


Tự Lực Văn Đoàn: Luồng gió mới của văn học hiện đại Việt Nam


Tự Lực Văn Đoàn là một tổ chức tư nhân hoạt động trong lĩnh vực văn chương, sống bằng sáng tác văn học và làm báo một cách thật sự chuyên nghiệp, hiện đại đầu tiên ở Việt Nam. Gắn liền với tên tuổi của những tác giả lớn đương thời như: Nhất Linh, Khái Hưng, Hoàng Đạo, Thế Lữ, Thạch Lam, Xuân Diệu,…

Xem thêm bài viết thuộc chuyên mục: Tổng Hợp

Related Articles

Back to top button