Tổng Hợp

Duyên khởi hay thập nhị nhân duyên

DUYÊN KHỞI

HAY

THẬP NHỊ NHÂN DUYÊN

GS Nguyễn Vĩnh Thượng

Lời

tác giả

: Việc

biên soạn

chắc chắn

không

tránh khỏi

những chỗ sai sót,

chúng tôi

ước mong

được sự

lượng thứ

của các bậc

cao minh

. Những sự

sửa sai

bổ khuyết

của quý

vị

độc giả

để bài viết này được đầy đủ và

hoàn hảo

hơn trong lần viết lại; đó quả là niềm

vinh hạnh

cho

chúng tôi

.

NVT

 

Hiểu

tư tưởng

Duyên Khởi

thì hiểu

Triết học

Phật giáo

. Thuyết “duyên khởi” là một nền tảng triết lý rất quan trọng trong lời

giáo huấn

của

Đức Phật

.

Sau khi

đắc đạo

,

Đức Phật

đã

căn cứ vào

lẽ

sanh khởi

của dukkha (những điều không

hài lòng

,

căng thẳng

, khổ đau…) mà nói lên sự

liên hệ

nhân quả

của nó

gồm có

12 thứ/ 12 chi. Ngài lập ra thuyết “duyên Khởi”.

Trong bài này tôi sẽ trình bày:

I.-Định nghĩa : thuyết

Duyên Khởi

 hay  

Thập nhị nhân duyên

.

II.-Nội dung của

Thập nhị nhân duyên

.

III.- A.-Bản Thể Luận trong thuyết

Duyên Khởi

.

– B.-Biện

chứng Pháp

trong thuyết

Duyên Khởi

.

IV.-Kết Luận.

 

I.-Định nghĩa: thuyết

Duyên Khởi

Thập nhị nhân duyên

.

Trong Kinh

Phật Tự

Thuyết (Udana,

Tiểu Bộ Kinh

I, tr. 291),

Đức Phật

nói:

“Vì cái này có, cái kia có. (imasmim sati idamhoti).

Vì cái này sinh, cái kia sinh. (imassuppàda idam uppajjati).

Vì cái này không, cái kia không. (imasmim asati idam na hoti).

Vì cái này diệt, cái kia diệt. (imassa nirodhà idam airujjhata”

Bốn câu trên cho thấy sự tương liên, tương tác trong sự

hiện hữu

liên tục

của mọi sự vật, và sự tương liên, tương tác trong sự hủy diệt của mọi sự vật. Căn cứ trên nguyên tắc này, thuyết

Duyên Khởi

được

thành lập

.

Thuyết

Duyên khởi

(Hán. 縁起, Sa. pratītyasamutpāda, Pa. paṭiccasamuppāda,  cũng được gọi là

Nhân duyên

sinh (因縁生), và vì

bao gồm

12 thứ/ 12

thành phần

nên cũng có tên  là

Thập nhị nhân duyên

(十二因縁, Sa. Dvādaśanidāna/ dvādaśāṅgapratītyasamutpāda).

Tiếng

duyên khởi

được dịch ra tiếng Anh với nhiều cụm từ khác nhau như sau: dependent origination, dependent arising, interdependent co-arising, conditioned arising, và conditioned genesis (genesis = căn nguyên).  Còn cụm từ

Thập Nhị Nhân Duyên

được dịch là the Twelve Links of Interdependent arising).

Theo tiếng Sanskrit thì pratītyasamutpāda

gồm có

2 tiếng:

-pratītya có nghĩa là

tùy thuộc

(dependent), chữ này đã thấy

xuất hiện

trong Kinh văn Vedas và Upanishads. Trong Kinh Rig Veda, chữ này có nghĩa là

tùy thuộc

, là gốc rể. Cũng trong tiếng Sanskrit chữ tiếp đầu ngữ prati có nghĩa là đi tới,

diễn tiến

, tiếp cận.

-samutpāda có nghĩa là

phát khởi

(arising), khởi sự (originate),

hậu quả

(effect).

Do đó

ý tưởng

về

duyên khởi

(the idea of dependent origination) có lẽ đã có trước khi

Đức Phật

ra đời. Các nhà

nghiên cứu

triết học

Ấn độ

đã

nhận thấy

4 chi đầu tiên của dây chuyền có 12 chi như:

Vô minh

, Hành, Thức,

Danh sắc

đã có trong

lý thuyết

về

vũ trụ

của Brihadaranyaka Upanishad và các kinh văn Vedas cổ xưa hơn.

Nhân Duyên

quan niệm

rằng một vòng tròn

gồm có

12 chi hay 12 mắt xích dính

với nhau

như sợi dây chuyền. Cái mắt xích này là nhân gây ra quả là cái mắt xích kia nhờ duyên là các

điều kiện

thích hợp

– năng lực- xúc tác với nhân.

tiếp tục

mãi mãi

; chỉ khi nào có một cái bị diệt thì cái kia cũng bị diệt. Nói khác, sự

sanh khởi

phải có

điều kiện

, thuyết

duyên khởi

có thể

diễn tả

qua một tiến trình như sau:

Thuyết Duyên Khởi/ 12rằng một vòng tròn12 chi hay 12 mắt xích dínhnhư sợi dây chuyền. Cái mắt xích này là nhân gây ra quả là cái mắt xích kia nhờ duyên là các- năng lực- xúc tác với nhân. nhan qua duyennhan qua duyen Rồi quả sẽ là nhân cho một tiến trình mới với sự trợ giúp của duyên mới để tạo thành một quả mới; và cứ như thế; chỉ khi nào có một cái bị diệt thì cái kia cũng bị diệt. Nói khác, sựphải có, thuyếtcó thểqua một tiến trình như sau:

                                                    Nhân – Duyên – Quả                                   

                                                               

Nhân chỉ

lý do

chính, duyên là

điều kiện

trợ giúp để sinh ra quả. Nhân là

nguyên nhân

tức là cái gì phát động ra ở mọi sự vật để gây ra một kết quả. Duyên là

duyên cớ

, là

điều kiện

, là

năng lực

, là sự

tương hợp

để giúp

nhân tạo

ra quả.

Một

thí dụ

đơn giản

: hột lúa (1) là cái quả của cây lúa (1) đã chín, hột lúa (2) sẽ là cái nhân của cây lúa (2) sắp mọc lên. Lúa muốn thành cây lúa, muốn có bông lúa thì phải nhờ có

điều kiện

: có

năng lượng

thích hợp

như đất, nước, không khí, ánh sáng, đây chính là duyên.

Trong vòng

tròn có 12 mắt xích thì mỗi mắt xích là

nguyên nhân

gây

phát khởi

mắt xích

kế tiếp

, và mỗi mắt xích

kế tiếp

sẽ

trở thành

một nhân mới, và cứ

tiếp diễn

liên tục

như thế, theo thuyết

duyên khởi

thì không có

nguyên nhân

đầu tiên, tất cả các

nguyên nhân

và kết quả cùng nhau

hiện hữu

, chúng có

liên hệ

hổ tương, tuỳ thuộc

với nhau

.

Theo

Đức Phật

 thì

chúng ta

thấy có 2 loại quan hệ giữa các sự vật là:

– Quan hệ

đồng thời

    “Cái này có thì cái kia có,

      Cái này không thì cái kia không.”

có nghĩa là mọi sự vật đều tương liên, đều cùng nhau mà

hiện hữu

.

-Quan hệ dị thời:

     “Cái này sinh nên cái kia sinh,

       Cái này diệt nên cái kia diệt.”

có nghĩa là mọi sự vật

kế tiếp

liên tục

để

sinh khởi

, cái này sinh ra trước để làm

nhân sinh

ra cái kia khi có

điều kiện

thích hợp

;  nếu một sự vật bị diệt thì sự vật

kế tiếp

cũng bị diệt.

Nói tóm, theo thuyết

duyên khởi

thì không có cái gì

hiện hữu

độc lập

với cái khác; mọi thứ đều

liên kết

tùy thuộc

lẫn nhau.

II.-Nội dung của thuyết

duyên khởi

      II.-A. Mười hai loại

nhân duyên

trong thuyết

duyên khởi

:

     Trong

Tương Ưng Bộ Kinh

II,

Đức Phật

đã

liệt kê

12 loại

nhân duyên

như sau:

     

Vô minh

, Hành, Thức,

Danh sắc

, Lục căn-

Lục trần

(

Lục nhập

), Xúc, Thọ, Ái, Thủ, Hữu, Sinh,

Lão tử

.  

                                   

                                                              12  

nhân duyên

diễn tả

như cái bánh xe của đời sống/ bánh xe

luân hồi

(Sa. Bhavachakra, Av. The Wheel of Life).12 nhan duyen12 nhan duyen 12 mắt xích thường đượcnhư cái bánh xe của đời sống/ bánh xe(Sa. Bhavachakra, Av. The Wheel of Life).

Đức Phật

nói “thuyết Duyên Khởi” là một

chân lý

đã có sẳn từ trước, thuyết này nói về

bản tánh

của

hiện hữu

(the nature of existence), và Ngài đã

chứng ngộ

thuyết này, nên Ngài mới đem khai thị cho  

đại chúng

.

Chúng ta

sẽ

tìm hiểu

mỗi thứ trong 12

Nhân Duyên

(The Twelve Links of  Dependent Origination) như sau:

1.-Vô Minh ( 無明, Sa. avidyā, Pi. avijjā,Av.Ignorance) có nghĩa là sự thiếu

học hỏi

, thiếu

hiểu biết

hoặc có biết nhưng

mê muội

. Trong

triết học

Phật giáo

,

vô minh

thường để chỉ sự không thấu hiểu

Tứ Diệu Đế

, không hiểu

tính chất

của

đời sống

là dukkha [những điều không

hài lòng

(unsatisfactory),

tình trạng

căng thẳng

(stressful),

tình trạng

đau khổ

(painful)…].

Vô minh

cũng để chỉ sự không thấu hiểu về

vô ngã

(anatman, no-self) trong một

ý nghĩa

về

vô thường

(anicca, impermanence)

hiện hữu

trong mỗi

hữu thể

(an individual existence).

Con người

của

chúng ta

là sự

kết hợp

của

ngũ uẩn

. (xem thêm bài viết

Ngũ Uẩn

của NVT).

Vô minh

tạo

điều kiện

và sanh ra mắt xích

tiếp theo

là Hành …

2.-Hành (行, Sa. saṃskāra, Pa. saṅkhāra, Av. volitional formation) là hành động có

cố ý

hay nghiệp (karma). Hành động này có thể tốt, có thể xấu hay

trung tính

. vì

phát khởi

từ

vô minh

, nên các

ý tưởng

,

lời nói

và hành động gieo

hạt giống

cho nghiệp; hành động  

cố ý

thì có trước khi có nghiệp và tạo nên nghiệp.

Hành tạo

điều kiện

phát khởi

ra mắt xích

tiếp theo

là Thức . . .

3.-Thức ( 識, Sa. vijñāna, Pa. viññāṇa, Av. conciousness): thông thường, thức được hiểu là những gì xảy ra khi một trong

lục căn

(six faculties: mắt, tai, mũi, lưởi, thân và ý – eye, ear, nose, tongue, body and mind)

tiếp xúc

với đối tượng của nó trong

lục trần

(six external phenomena: sắc, thanh, hương, vị, xúc và ý – visible form, sound, smell, taste, touch, ideas and thoughts). Trong trường phái

Duy thức học

(Yogacara school) còn có thêm 2 thức nữa là

mạt-na thức

và alaya thức.

Thức tạo

điều kiện

phát khởi

ra mắt xích

tiếp theo

Danh sắc

. . .

4.-Danh sắc (名色, Sa.= Pa. nāmarūpa,Av. name & form/ corporeality & mentality) là

toàn bộ

yếu tố

tâm lý

sinh lý

do sự

kết hợp

của

ngũ uẩn

mà tạo thành. 

Có 4 uẩn thuộc về

tâm lý

là thọ, tưởng, hành, thức; và 1 uẩn thuộc về

vật lý

tứ đại

: đất, nước, gió và lửa.

Danh sắc

tạo

điều kiện

và phá sinh ra

Lục căn

Lục trần

(

Lục nhập

).

5.-Lục căn –

Lục trần

(gọi chung là

Lục nhập

) (六根, Sa. ṣaḍāyatana, Pi. saḷāyatana – 六塵, Av. six sense organs & their six objects):

-sáu căn

gồm có

5

giác quan

và khả năng

suy nghĩ

: nhãn, nhỉ, tỷ, thiệt, thân và ý.

-sáu trần

gồm có

: sắc, thanh, hương, vị, xúc và pháp (

ý tưởng

).

Khi mỗi căn của 6 căn

tiếp xúc

với mỗi trần

tương ứng

trong 6 trần thì sinh ra 6 thức (六 識):

nhãn thức

,

nhĩ thức

,

tỷ thức

,

thiệt thức

,

thân thức

ý thức

.

Khi có sự gặp gỡ và giao thoa giữa căn, trần và thức thì phát sanh ra xúc.

6.-Xúc (觸, Sa. sparśa, Pa. phassa, Av. contact / sense impression): như đã trình bày ở trên, xúc là sự gặp gở, giao thoa giữa căn, trần và thức. Rồi xúc làm

điều kiện

phát sanh ra Thọ.

7.Thọ (受, Sa., Pa. vedanā, Av. feeling / sensation) là cảm nhận của

con người

mới sanh với

thế giới

bên ngoài, tức là các

phản ứng

tâm lý

phát sanh ra, thọ có 6 loại: mắt

tiếp xúc

với hình thể, tai

tiếp xúc

với

âm thanh

… Trải nghiệm của

cảm thọ

có khi

dễ chịu

,

lạc thú

(pleasurable), có khi khó chịu,

đau đớn

,

đau khổ

 (painful, suffering), có khi

trung tính

(neutral); trải nghiệm này đưa đến sự

ưa thích

hoặc sư không

ưa thích

, ghét.

Thọ là

điều kiện

và làm phát sanh ra Ái.

8.Ái (愛, Sa. tṛṣṇā, Pa. taṇhā, Av. craving or attachment) là

lòng ham muốn

một đối tượng. Có 6 loại như:

sắc ái

, thanh ái, hương ái, vị ái, xúc ái và pháp (

ý tưởng

) ái.

Ái là

điều kiện

và làm

phát khởi

ra Thủ.

9. Thủ (取, Sa., Pa. upādāna,Av. cling or grasping) là điều mà

cá nhân

mới chiếm lấy cho mình, đây là mức độ rất mạnh của lòng

tham muốn

. Thủ có 4 loại: 1.

Dục thủ

(sensual pleasures / desired objects), 2.

Kiến thủ

(mistaken views / bad views), 3.

Giới cấm thủ

(bad system of ethics and conduct), 4.Ngã luận thủ (views of self): tất cả

chúng ta

thường bám chặt vào

bản ngã

là do lòng

tham muốn

ở mức độ rất mạnh mẽ.

Thủ là

điều kiện

làm

phát khởi

Hữu.

10. Hữu (有, Sa., Pa. bhava, Av. process of becoming/ existence) là giai đoạn kéo dài từ lúc bắt đầu tạo nghiệp của kiếp này đến

cuộc đời

của

kiếp sau

. Hữu là

toàn thể

sự sống, sự

hiện hữu

hay

tồn tại

.

Hữu là

điều kiện

làm

phát khởi

Sinh.

11.Sinh ( 生, Sa., Pa. jāti, Av. birth) là sự

xuất hiện

của một

cá nhân

trong

thế giới

. Sanh là một vòng luân luư của

tái sanh

(rebirth).

Sanh dẩn tới Lão và Tử.

12.Lão & Tử (老死, Sa., Pa.. jarāmaraṇa,Av. aging and death): vì có sanh nên có già và chết.

Con người

là một

hữu thể

vị tử-

một sinh

vật đi đến chỗ chết, đây là một

chân lý

vĩnh cữu

:

con người

sanh ra, với

thời gian

trôi qua

, thì đến lúc già và đến lúc chết.

Dây chuyền 12

nhân duyên

đi đến mắc xích Lão – Tử, rồi do nghiệp của

đời sống

này lại tạo nên nghiệp của

đời sống

kế tiếp

,

Lão tử

điều kiện

làm

phát khởi

ra

vô minh

. Cứ

tiếp diễn

như vậy không ngừng để tạo nên bánh xe

luân hồi

. Khi chết,

nghiệp lực

của

luân hồi

(karmic force of samsara) sẽ đưa

chúng sanh

trở về

tái sanh

(rebirth). Để

chấm dứt

luân hồi

, theo lời

Đức Phật

dạy thì

chúng ta

phải thấu hiểu

Tứ Diệu Đế

để diệt

vô minh

mà đi đến chỗ

giải thoát

,

đạt được

niết-bàn. 

II.-B.

Nhận xét

về thuyết

duyên khởi

:

1.-Thuyết

duyên khởi

quan niệm

động lực

của việc sanh thành là do

nguyên nhân

được

điều kiện

hóa để

thành quả

:

mọi vật

, mọi sự

phát khởi

là do những

điều kiện

cần và đủ mà chúng

liên kết

(inter-connection), cùng nhau

tùy thuộc

(inter-dependence), cùng nhau

sanh khởi

(inter-co-arising).

Theo

Đức Phật

thì nguyên lý

duyên khởi

là một

chân lý

đã có sẳn và

chi phối

tất cả

mọi vật

, mọi sự.

Đức Phật

xác định rằng dù cho Phật không ra đời thì nguyên lý này vẫn

hiện hữu

, Ngài chỉ ngộ được nguyên lý này rồi đem giảng lại cho các hàng

đệ tử

. Nhờ ngộ được

chân lý

này nên Ngài đã vượt

thoát khỏi

vòng

ràng buộc

của “12 nhân duyên”, và Ngài đã

được giải thoát

,

đạt được

niết-bàn.

Nguyên lý

duyên khởi

không chỉ là một

triết thuyết

cao siêu của

Phật giáo

mà còn là một

chân lý

chúng ta

phải thấu hiểu để

giải thoát

khỏi dukkha (những sự không bằng lòng, sự

căng thẳng

,

đau đớn

, khổ sở . . .).

Như đã dẩn chứng ở trên,

Đức Phật

đã

tóm tắt

thuyết

duyên khởi

trong 4 câu:

Cái này có thì cái kia có,

Cái này sanh thì cái kia sanh.

Cái này không có thì cái kia không có,

Cái này diệt thì cái kia diệt.

(This existing, that exists,

This arising, that arises;

This not existing, that does not exist,

This ceasing, that ceases.)

Nói cách khác, thuyết

duyên khởi

cho

chúng ta

thấy rằng cuộc sống có một mối tương liên chằng chịt (inter-related),

liên kết

(inter-connected) giữa

con người

với

con người

, giũa

con người

với

thiên nhiên

. . ., và không có một sự, một vật nào đứng

độc lập

một mình

cả.

Mục đích

của

Đức Phật

dạy thuyết

duyên khởi

là để giúp

con người

cũng

được giải thoát

, cũng

đạt được

niết-bàn như Ngài. Theo tiếng

Ấn độ

thì nirvana (niết-bàn) có

nghĩa đen

dập tắt

ngọn lữa, ở đây có nghĩa là

dập tắt

3 điều

độc hại

là: tham, sân và si (greed, hatred and delusion or ignorance);

tam độc

này gây nên nghiệp và đẩy

chúng sanh

trở vào vòng

luân hồi

(samsara).

Đạt được

niết bàn

còn giúp cho một người sau khi đã

giác ngộ

sau khi chết

thì không còn

tái sanh

(rebirth), không bị cuốn vào vòng

luân hồi

.

Tư tưởng

duyên khởi

là một sợi chỉ triết lý xuyên suốt dòng

lịch sử

tư tưởng

Phật giáo

.

        2.Thuyết

duyên khởi

đã được quảng diễn và phản ánh một cách khác nhau với mức độ khác nhau trong dòng

lịch sử

tư tưởng

Phật giáo

như sau:

               2.a.-Thượng Tọa Bộ (Theravada) đã

áp dụng

thuyết

duyên khởi

để

giải thích

về sự

phát khởi

của dukkha ( những điều không

hài lòng

, sự

căng thẳng

,

đau khổ

. . .) và

hữu thể

(existence) thì luôn luôn

biến đổi

,

vô thường

, do đó

vô ngã

.

               2.b.-Phật giáo Phát triển (the developmental Buddhism), thường gọi là Mahayana (

Đại thừa

) đã

áp dụng

thuyết

duyên khởi

để

giảng thuyết

về tính

tương đối

của

hữu thể

(existence) bằng những lý giải về tính

tương đối

của

học thuyết

duyên khởi

.

               2.c.-Trường phái

Trung đạo

(Madhyamika school): Ngài Nagarjuna (

Long Thọ

, khoảng 150 – khoảng 250 CN) là một trong các

triết gia

Phật giáo

đứng hàng đầu sau khi

Đức Phật

Thích-ca qua đời, nhiều nhà

nghiên cứu

Phật học

đã tôn vinh Ngài là vị Phật thứ hai

trong lịch sử

Phật giáo

.

Long Thọ

đã đặt

trọng tâm

luận án

của ông vào

quan niệm

về

Tánh Không

(Sunyata, Av. Emptiness). Thuyết

Tánh Không

đã

căn cứ vào

hai

học thuyết

chính của

Phật giáo

là thuyết

vô ngã

(anatman, Av. non-self) và thuyết

duyên khởi

(pratitya-samutpata, Av. dependent origination),

Long Thọ

đã dựa hai

học thuyết

này để làm luận cứ

bác bỏ

các

học thuyết

siêu hình ở trong

thời đại

của ông. 

Theo

Long Thọ

,

Đức Phật

đã giảng trong kinh văn rằng không chỉ

chúng sanh

(sentient beings) có thuộc tính là

vô ngã

mà tất cả các vật, các

hiện tượng

(dhammas, Av. phenomena) đều

vô ngã

, đều không có

tự tánh

. Như vậy, tất cả (

chúng sanh

+

hiện tượng

) là cái Không (Emptiness) của một

hiện hữu

.

Hiện hữu

không có tính

độc lập

, bởi vì tất cả mọi sự,

mọi vật

đều

phát khởi

một cách tuỳ thuộc lẫn nhau: không phải bởi chính

năng lực

của nó, mà bởi

tùy thuộc

vào `điều kiện, vào duyên (depending on conditions) dẩn tới sự

hiện hữu

của chúng. Như vậy chúng không phải là một

hữu thể

(being) mà là cái không (emptiness).

               2.d.- Trường phái

Duy thức học

(Yogacara school) xác minh rằng chỉ sự

hiểu biết

chân chính

về thuyết

duyên khởi

thì mới

vượt qua

những

sai lầm

khi

nhận thức

rằng: cái gì không

hiện hữu

cho

hữu thể

(existent), và cái gì

hiện hữu

cho

vô thể

(non-existent).

               2.e.-Kinh Bát-nhã-ba-la-mật-đa (the Prajnaparamita Sutra)  

nhấn mạnh

rằng thuyết

duyên khởi

đã

cho biết

tất cả mọi sự ,

mọi vật

đều

liên kết

tùy thuộc

nhau (inter-dependence).

        3.Thuyết

duyên khởi

đã

ảnh hưởng

trong văn thơ từ xưa

đến nay

rất nhiều. Tôi xin trích dẩn hai

trường hợp

sau đây:

                        – Trong thơ:

Thiền sư

Đạo Hạnh

(   – 1115) vào thời Lý đã có một

nhận xét

rất sâu sắc:

                Phiên âm Việt Hán:

                      “Tác hữu

trần sa

hữu,

                             Vị không

nhất thiết không

.

                             

Hữu không

như

thủy nguyệt

,

                             Vật trước

hữu không

không“

                                               (Hữu – Không)

                  Nguyên tác chữ Hán:

                            作有塵沙有, 

                                         為空一切空。 

                                         有空如水月, 

                                         勿著有空空。

                               (有空 )

                 Dịch thơ:

                    “Có thì có tự

mảy may

,

                       Không thì cả

thế gian

này cũng không.

                       Kìa xem bóng nguyệt dòng sông,

                        Ai hay không có, có không thế nào“.

                                      (Có-Không)

                        (Thích Mật Thể dịch)

                  Dịch nghĩa:

                        Nếu nói “có“ thì nhỏ nhoi như

hạt bụi

cũng có.

                        Nếu nói “không“ thì cả

thế gian

này cũng không.

                        “Có“ và “không“ như ánh trăng ở

dưới nước

, chỉ là cái bóng,

                        Đừng chấp vào cái “có“, cũng đừng chấp vào cái “không“.

             – Trong văn:

Tác giả

Neadle Donal Walsch (Mỹ, 1943-    ) đã viết:

                     “. . . the Ultimate Truth: nothing exists in the universe that is separate from anything else. Everything is intrinsically connected, irrevocably interdependent, interactive, interwoven into the fabric of all of life“.

(Source: internet: Quotes from Conversations with God, Vol. 2, posted in Oct. 2016)

(…

Chân lý

tối thượng

là: không có sự vật gì

hiện hữu

trong

vũ trụ

mà tách rời khỏi bất cứ vật nào. Mỗi sự, mỗi vật được

liên kết

về

bản chất

, được

liên kết

-tùy thuộc và không thể bị hủy bỏ, tương tác, tương liên đan dệt trong cách

cấu tạo

của tất cả mọi sự vật của

cuộc đời

.)

Một cách tổng quát, thuyết

duyên khởi

có thể được vận dụng trong

sinh hoạt

hằng ngày

, trong

sinh hoạt

xã hội

, trong

sinh hoạt

chính trị . . .

III.-Bản thể luận và

Biện chứng

pháp trong thuyết

duyên khởi

:

             

III. A.-Bản thể luận trong thuyết

duyên khởi

:

                           

Bản thể

luận là một phàm trù của

triết học

Tây phương

,

chúng ta

sẽ

tìm hiểu

về

Bản thể

luận, rồi sau đó với cái lăng kính “bản thể luận“

chúng ta

sẽ

tìm hiểu

thuyết

duyên khởi

.

Bản thể

luận là một ngành của

Siêu hình học

.

Siêu hình học

( Metaphysics) là tiếng có nguồn gốc từ Hy Lạp cổ xưa là meta-physica ( meta= bên kia, physica =

vật lý

, vật

hữu hình

).

Siêu hình học

mục đích

khảo sát

bản chất

căn bản

của sự

hiện hữu

, sự

tồn tại

(being).

Siêu hình học

là một trong những

tác phẩm

triết học

của Aristotle (Hy lạp, 384 tr.C.N).

Siêu hình học

gồm có

hai ngành chính là: 

                        a.

Vũ trụ luận

(Cosmology) là tiếng có nguồn gốc từ Hy lạp là Kosmos =

thế giới

, logia=

nghiên cứu

về.

Vũ trụ luận

là khoa

nghiên cứu

về

thế giới

,

vũ trụ

để

tìm hiểu

nguồn gốc, sự tiến hoá, thay đổi

trải qua

nhiều

thế hệ

, và số phận của

vũ trụ

. Việc khảo cứu về

vũ trụ

đã có một

lịch sử

lâu dài

liên quan đến

khoa học,

triết học

, thuyết

bí truyền

của một nhóm người, và của một

tôn giáo

.

Vũ trụ luận

nghiên cứu

các

vấn đề

chính yếu

sau đây: –

Vũ trụ

vạn vật

phát sinh từ đâu.-Tính chất của

vũ trụ

vạn vật

như thế nào: tĩnh hay động,

thường hằng

hay

vô thường

, luôn luôn

chuyển biến

.

Vũ trụ

vạn vật

có khởi thuỷ, có

chấm dứt

không. 

                      b.

Bản thể

luận ( Ontology) là tiếng có nguồn gốc từ Hy Lạp là ontos = sự

hiện hữu

, sự

tồn tại

(being); logia =

nghiên cứu

về.

Bản thể

luận là khoa

nghiên cứu

về sự

hiện hữu

(the study of being), về

hữu thể

(existence).

Bản thể

luận khảo sát sự

hiện hữu

như là chính nó đang

hiện hữu

, tức là

bản tính

của

hữu thể

(the nature of existence),

thực thể

hiện hữu

có thể chia ra thành các nhóm được gọi là các “phạm trù” của

hữu thể

(the categories of existence) và những điều

liên hệ

.

Để

hiểu rõ

,

chúng ta

liệt kê

các câu hỏi, các chất vấn mà

Bản thể

luận có thể đặt ra khi khảo sát về sự

hiện hữu

, về

hữu thể

như:

    -Cái gì là nguyên lý cơ bản ẩn tàng trong sự hiện hữu?

    -Cái gì khác nhau giữa

thực tại

chân thật

(really existing) và chỉ là sự biểu hiện để

hiện hữu

(only appearing to exist)?

    -Thế giới bên ngoài có thực sự

hiện hữu

không?

    -Tha nhân có thật sự

hiện hữu

không?

    -Thượng đế (God) có thật sự

hiện hữu

không?

    -Tôi

hiện hữu

như thế nào?  hay Tôi từ đâu đến và tôi sẽ đi về đâu?  hay Vì

mục đích

gì mà tôi

hiện hữu

ở đây?

Như vậy trong

tư tưởng

Tây phương

,

Bản thể

luận chỉ

nghiên cứu

về

hữu thể

(existence) và đã

đánh giá

tích cực

cho

hữu thể

,

dĩ nhiên

đã có

nhận định

tiêu cực

cho

vô thể

(non-existence). Trong

tư tưởng

Đông phương

thì “vô thể/ phi hiện hữu” (non-existing) là nền tảng cơ bản của

Bản thể

luận; như

quan niệm

Vô (non-being) của

Lão giáo

, và

quan niệm

Tánh không

(Sunyata, Emptiness) của

Long Thọ

/ Nagarjuna (khoảng 150 – khoảng 250 CN).

(Xem thêm bài viết “Phật

giáo như

là một

triết học

hay như là một tôn giáo“ của NVT)

Theo các

Kinh điển

Phật giáo

, khi

Đức Phật

Thích-ca còn

tại thế

, Ngài luôn giữ

im lặng

khi có các

đệ tử

hỏi về những câu hỏi có

tính cách

siêu hình như: –

Vũ trụ

này thì

vĩnh cữu

hay  không vĩnh cữu? – Thân xác của

con người

bản ngã

là một hay là hai phần khác nhau? . . .

Đức Phật

đã

trả lời

với các

đệ tử

rằng những câu hỏi đó thì chẳng

ích lợi

gì cả, và có thể khiến cho các

đệ tử

xa rời

mục tiêu

của

thức tỉnh

, của

giác ngộ

. Chỉ có những

thảo luận

tư tưởng

giá trị

thực dụng

để

giải phóng

con người

khỏi dukkha là quan trọng hơn cả.

Đức Phật

thường dùng

hai

câu chuyện

ngụ ngôn sau đây để làm

sáng tỏ

quan điểm

của Ngài:

              1.-Chuyện ngụ ngôn về chiếc bè: 

Chánh Pháp

(Dharma) như một chiếc bè để đi qua sông,

Chánh Pháp

chỉ là một

phương tiện

thực dụng

để đạt Nirvana (Niết-bàn).

Chánh Pháp

mục đích

là giúp

hành giả

đi qua sông/ tức để giải thoát/ chứ không phải cứ bám vào

Chánh Pháp

. Khi

con người

đã qua sông thì

con người

sẽ rời bỏ chiếc bè.

Tương tự

khi đã

đắc đạo

, đã

giải thoát

thì phải rời xa

Chánh Pháp

.

               2.-Chuyện ngụ ngôn về một mũi tên có tẩm thuốc độc:

Trong cách

cấp cứu

của y tế trong

trường hợp

khẩn cấp này thì vị Y sĩ không

cần phải

tìm coi ai bắn mũi tên này ? (tương đương với câu hỏi có

tính cách

siêu hình học

) vì câu hỏi này không có gì

cấp thiết

mà điều khẩn cấp là việc giựt mũi tên ra khỏi người này và

tìm cách

chữa vết thương do mũi tên gây ra (như

tìm cách

diệt dukkha). Qua

ý nghĩa

của ngụ ngôn này, nhiều nhà

nghiên cứu

Phật học

và các

đệ tử

Phật đã tôn vinh Ngài như là “vị Y sĩ vĩ đại” bởi vì

mục đích

của Ngài là chữa trị những điều đem đến khổ đau trước nhất chứ không phải để

trả lời

, để

truy cứu

những câu hỏi siêu hình.

Đức Phật

đã không có

thích thú

hoặc tránh xa những

vấn đề

siêu hình (metaphysics), nên

chúng ta

có thể

kết luận

rằng Ngài cũng không

thích thú

và tránh xa việc

thảo luận

về

Bản thể

luận (ontology); Ngài không đề cập tới những

nguyên nhân

đầu tiên.

Đông phương

cũng như ở

Tây phương

, nhiều

triết gia

đã

trả lời

các câu hỏi về nguồn gốc của

vũ trụ

cũng như

bản tính

của

vũ trụ

bằng những câu

trả lời

đã được nhuận sắc

tùy theo

những điều mà

triết gia

này thích hoặc theo những điều mà

triết gia

không thích.

Triết gia

Morris Lazerowitz (Mỹ, 1907 – 1987) đã

phê bình

môn

siêu hình học

như sau:

“Like a dream, a metaphysical theory is a production of the unconscious and both sense and motivation. We enjoy or repelled by it; it gives us pleasure or pain, a feeling of security or one of danger; but its meaning is hidden from us”.

(M. L., The structure of Metaphysics, London: Routledge and Kegan Paul, 1955, p. 26; quoted by David J. Kalupahana, Buddhist Philosophy: A historical Analysis, Honolulu: University of Hawaii Press, p. 157)

(Như một giấc mơ, một

học thuyết

siêu hình là một sản phẩm của

vô thức

, và của cả

ý nghĩa

động lực

.

Chúng ta

thưởng thức

môn

siêu hình học

hay bị nó đẩy lùi đi xa, nó mang lại cho

chúng ta

niềm vui hay sự

đau đớn

, nó đem lại một

cảm giác

an toàn

hoặc một

cảm giác

bị nguy hiểm; nhưng

ý nghĩa

của nó thì bị ẩn dấu khỏi

chúng ta

.)

Tuy nhiên

, hiện nay rất nhiều nhà

nghiên cứu

Phật học

Tây phương

đã lấy lăng kính “Bản thể luận” của

triết học

Tây phương

tìm hiểu

về thuyết

duyên khởi

. Trong đường hướng này,

chúng tôi

tìm hiểu

Bản thể

luận trong thuyết

duyên khởi

.

Thuyết

duyên khởi

đã có một nguyên tắc

căn bản

của

Bản thể

luận khi thuyết này

giải thích

bản tính

và những sự

liên hệ

của

hiện hữu

(being); sự

sinh thành

,

biến chuyển

;

hữu thể

thực tại

tối hậu

. Thuyết

duyên khởi

nhấn mạnh

mọi vật

đều

tùy thuộc

lẫn nhau, không có sự vật nào

độc lập

cả chỉ trừ có Nirvana (Niết-bàn). Thuyết

duyên khởi

tin tưởng

mọi sự vật đều do

nhân duyên

(causal conditioning), nhân (causality) là nền tảng

căn bản

của

Bản thể

luận.

Phật giáo

không đưa ra một “nguyên nhân đầu tiên” (first cause) mà từ đó các

hữu thể

sinh khởi

, không nói đến một

Thượng đế

sáng tạo

(creator God), và cũng không nói đến

quan niệm

của ”Vệ-đà” (Vedic concept), về

Phạm Thiên

(Brahman, Av. Universal self). Hơn nữa thuyết

duyên khởi

cho rằng mọi sự vật luôn

biến đổi

không ngừng, nhưng có một điều không

biến đổi

,

vĩnh cữu

là tính

liên tục

của sự

biến đổi

. Như vậy, thuyết

duyên khởi

đã

áp dụng

nguyên tắc của

Bản thể

luận chẳng những để

giải thích

về “bản tính của hữu thể”, về sự

quan sát

thực nghiệm các

hiện tượng

mà còn

giải thích

về

bản tính

và sự

hiện hữu

của

đời sống

.

Nói tóm,

Đức Phật

đã

nhấn mạnh

sự thấu hiểu

bản tính

của sự vật như là chính nó đang

hiện hữu

, hiểu thấu những gì

hữu thể

đã xảy ra trong

quá khứ

và những gì sẽ xảy ra trong tương lai.

Đức Phật

nói về căn nguyên (genesis) của

hữu thể

: cái này có vì cái kia có; mọi sự vật đều tuỳ nhân, đều

tùy duyên

của cái khác mà phát sanh ra. Bạn là

căn duyên

của người khác và của

hoàn cảnh

. Người khác và

hoàn cảnh

căn duyên

của bạn.

               

III.B.-Biện

chứng pháp

trong thuyết

duyên khởi

:

                          1.-

Biện chứng

pháp là một loại Luận lý học

hình thức

.

Chúng tôi

sẽ

tìm hiểu

Biện chứng

pháp là gì? và

tìm hiểu

vài phép

biện chứng

chính yếu

, rồi

tìm hiểu

phép

biện chứng

trong thuyết

duyên khởi

.

                           

Biện chứng

pháp (Av. Dialectic/ Dialectics, Pv. Dialectique) có nguồn gốc từ tiếng Hy Lạp là dialektike là một

phương pháp

giúp

chúng ta

khám phá

chân lý

của

ý tưởng

bằng cách

thảo luận

,

so sánh

những

ý tưởng

đối lập

nhau.

Theo

chiết tự

, dialektike

đồng nghĩa với

dialegein gồm 2 chữ: dia có nghĩa là cả hai

xuyên qua

, legein là nói, là

bàn luận

; như vậy

biện chứng

pháp là

con đường

mà trong đó có 2

ý tưởng

khác nhau, hoặc cùng

hiện hữu

một lúc, hoặc cùng

ảnh hưởng

lẫn nhau. Nói cách khác,

mục đích

của

Biện chứng

pháp/ Phép

biện chứng

(dialectic method) là tìm

giải đáp

cho những điều bất đồng qua những

bàn luận

nghiêm túc để tìm

chân lý

.

Dialektike (

Biện chứng

pháp) có

liên hệ

với sự

trao đổi

, với sự

biện luận

(argumentation) giữa 2 phe, nhưng không

đồng nghĩa với

đối thoại (dialogue).

Có nhiều

phương pháp

biện chứng

khác nhau

trong lịch sử

triết học

Tây phương

Đông phương

như Phép

biện chứng

của Socrates (Socratic method, ông là người Greek, sống khoảng 470 tr. CN – khoảng 399 tr. CN), của

Ấn độ giáo

( Hinduism, phát triển khoảng 500 tr. CN – 300 tr. CN), của

Phật giáo

(phát triển khoảng thế kỷ thứ 6 – thế kỷ thứ 4 tr. CN), của thời Trung cổ ( Median age, từ thế kỷ thứ 5 – thế kỷ thứ 15 CN), của Hégel (Hegelian dialectics, ông là người Đức, 1770-1831), của Marxist (Marxist method, Karl Marx là người Đức, 1818-1883), của Talmud (Talmudic method, Talmud là kinh văn của các

Giáo sĩ

Do-thái giáo (Rabbinic, phát sanh khoảng năm 500 CN), của phái Tân

Chính thống

(Neo-Orthodoxy,

phát khởi

sau Đệ

nhất thế

chiến ở Âu châu)…

Như đã trình bày,

mục đích

của

phương pháp

biện chứng

nhằm để

phân giải

những bất đồng qua cuộc

thảo luận

thuần lý

để đi tới

mục đích

tối hậu

tìm ra

chân lý

. Một trong các cách này có

phương pháp

của Socrate. Ông nói rằng trước hết chúng đưa ra một

giả thuyết

cho sẳn (given hypothesis) rồi dẩn đến một điều

mâu thuẫn

(contradiction) với

giả thuyết

này,

chúng ta

chứng minh

lý luận

rằng điều

mâu thuẫn

này đúng, như vậy có nghĩa là

giả thuyết

có những điều

hạn chế

,

nếu không

nói là sai, và không

hoàn hảo

để

rút lại

cho biết

đâu  là

chân lý

. Hoặc ngược lại, nếu điều

mâu thuẫn

sai thì

giả thuyết

được coi là đúng.

            Một

phương pháp

biện chứng

khác

gồm có

3 nhịp:

                      1.Chính đề (Thesis) là một

ý tưởng

, một

nhận thức

hay

xu hướng

, hay một

lý thuyết

đầu tiên. Chính đề

thường có

giá trị

hạn chế

hay có khiếm khuyết, nên tạo ra một

ý tưởng

đối lập

.

                       2.Phản đề (Antithesis) là một

ý tưởng

, một

nhận thức

hay

xu hướng

hay

lý thuyết

chống lại

chính đề. Cuộc

tranh đấu

,

thảo luận

giữa chính đề và phản đề diễn ra để

đạt được

một

giải pháp

vượt qua

những

giá trị

hạn chế

của chính đề và phản đề;

giải pháp

này là những cái hay, những

tinh hoa

của cả hai, và tạo nên Tổng hợp đề.

                       3.Tổng hợp đề (Synthesis) là

kết hợp

các

ưu điểm

, và phủ nhận các

hạn chế

của chính và phản đề.

                       Một khi

đạt được

Tổng hợp đề thì Tổng hợp đề có thể

trở thành

bước thứ nhất (Chính đề) trong 3 nhịp

biện chứng

mới khác, và cứ

tiếp diễn

theo một trình

tự như

lúc trước. Nếu như Tổng hợp đề cũng không được

thỏa mãn

, không có tánh

thuyết phục

thì Tổng hợp đề sẽ

trở thành

một Chính đề mới, và sẽ tạo nên một phản đề mới . . .Sau đó 3 nhịp của

biện chứng

sẽ diễn ra ở một

trình độ

cao hơn.

Nhiều nhà

biện chứng

học còn

diễn tả

3 nhịp

biện chứng

bằng những

thuật ngữ

khác như:

                   1. Chính đề (thesis) vẫn được giữ nguyên.

                   2.Phản đề  được thay thế bằng

thuật ngữ

Phủ định/Hủy thể của Chính                 đề (negation of thesis).

                   3.Tổng hợp đề được thay thế bằng Phủ định của phủ định hay Hủy thể của hủy thể (negation of negation), tức là phủ định lại cái phủ định của Chính đề.

             

Công thức

:

                    Chính đề –     Phản đề   – Tổng hợp đề

Vài ví dụ

đơn giản

:

    -Ví dụ 1: con gà (1) sinh ra trứng gà (1), rồi trứng gà (1) nở ra con gà (2), rồi con gà (2) sinh ra trứng gà (2)…

Phân tích: trứng gà (1) là phủ định của con gà (1).

                 con gà (2) là phủ định của trứng gà (1)

    – Ví dụ 2: hột lúa (1) sanh cây lúa (1), rồi cây lúa (1) sanh ra hột lúa (2), rồi hột lúa (2) sanh ra cây lúa (2) . . .

Phân tích: tương tợ như

trường hợp

con gà và trứng gà.

Điều nên

lưu ý

là con gà (2) và trứng gà (2) cũng như hột lúa (2) và cây lúa (2) thì không giống với lần thứ nhất. Bởi vì

mọi vật

đều thay đổi, đều phát triển theo một vòng xoắn ốc chứ không theo 1 vòng tròn tức

trở về

vị trí

cũ.

Theo Hegel thì

công thức

3 nhịp

biện chứng

: thesis – antithesis – synthesis

không giải

thích được tại sao mà thesis đòi hỏi phải có antithesis, cho nên ông đã dùng một

phương pháp

biện chứng

có 3

giá trị

luận lý là:

                     Abstract – Negative – Concrete

           – Abstract là tiền đề

sơ khởi

có tính trừ tượng, có

thể không

hoàn hảo

.

           – Negative là phản đề, phủ định lại tiền đề.

           -Concrete là một tổng hợp đề có

giá trị

chắc chắn

, có

giá trị

tuyệt đối

vượt qua

bước phủ định.

Phương pháp

này được gọi là

Biện chứng

pháp của Hegel (Hegelian Dialectics).

Biện chứng

pháp của Hegel đã

căn cứ vào

4

quan niệm

như sau: 

1.

Mọi vật

đều hữu hạn, đều

hiện hữu

trong một cái khung

thời gian

.

2.

Mọi vật

đều

bao gồm

những

mâu thuẫn

(contradictions) nội tại hay những

thế lực

đối nghịch (opposing forces) hay khuynh hướng

đối lập

(opposing tendencies), hoặc

lợi ích

đối lập

(opposing interests).

3.Những sự thay đổi

dần dần

sẽ dẩn đến cuộc khủng hoảng, đến bước ngoặt một khi có

một thế

lực

vượt qua

thế lực

đối nghịch. Nói khác, khi số lượng thay đổi (quantitative change) sẽ đưa đến sự thay đổi chất lượng (qualitative change).

4. Sự thay đổi thì

đi theo

một vòng xoắn ốc (helical) chứ không theo một vòng tròn, vì sự thay đổi không bao giờ

trở lại

cùng một

vị trí

.

Phép

biện chứng

của Heraclitus (Greek, Herakleitos; Pháp, Héraclite, khoảng 535 tr. CN – 475 tr. CN) thì

dựa vào

tư tưởng

triết học

của ông là tìm sự thống nhất các mặt

đối lập

(unity of opposites). Ông chủ trương rằng mọi sự vật đều thay đổi

liên tục

, đó là kết quả của những sự

xung đột

đối lập

nội tại trong sự vật. Héraclite cũng đã ví

mọi vật

đều

biến chuyển

như một dòng nước qua câu nói thời danh:

You can not step twice into the same river, for fresh waters are ever flowing in upon you. The sun is new every day.

(Bertrand Russel, History of Western philosophy, London: George Allen & Unwin, 1979, p. 63)

(Bạn không thể nào bước vào hai lần trong cùng một dòng sông, vì nước mát luôn luôn

trôi chảy

qua người bạn. Mỗi ngày

mặt trời

đều đổi mới.)

Nước của dòng sông luôn luôn chảy, luôn luôn trôi đi mãi. Nhưng có cái không thay đổi là chính dòng sông, nhờ đó mà

chúng ta

xác định được dòng sông.

Quan niệm

này

tương tự

với

quan niệm

vô thường

của

Đức Phật

.

Chúng tôi

đã tóm lược các

phương pháp

biện chứng

lớn để

độc giả

có dịp

so sánh

với

Biện chứng

pháp trong thuyết

duyên khởi

,

chúng ta

có thể gọi là

Duyên khởi pháp

.

Duyên khởi pháp

cũng đưa ra 3 nhịp:

                                         Nhân –  Duyên  –  Quả

Nguyên lý Nhân-Duyên-Quả

chúng tôi

đã trình bày ở trên.

Duyên khởi pháp

của

Đức Phật

thì

sâu xa

hơn các

phương pháp

trên. Thật vậy

Duyên khởi pháp

nhằm

đi tìm chân lý

như là nó có thực (the truth it really is).

Duyên khởi pháp

cho thấy

mọi vật

thì

sinh sinh

diệt diệt,

biến hóa

không ngừng, mọi sự,

mọi vật

đều quay lăng như bánh xe: đó là cái

lý vô thường

. Nhưng trong cái

vô thường

này , có một

chân lý

thường hằng

bất biến

đó là luật Nhân-Duyên-Quả của

Duyên Khởi pháp

.

IV.-Kết Luận

He who sees the Paticcasamuppada sees the Dhamma.

He who sees the Dhamma sees the Paticcasauppada.

(Majjhima Nikaya 1. 190, translated by David Williams)

(Ai mà hiểu được thuyết

duyên khởi

tức là hiểu được

Phật Pháp

.

Ai mà hiểu được

Phật Pháp

tức là hiểu được thuyết

duyên khởi

)

Thấu hiểu thuyết

duyên khởi

là điều

cốt lõi

để thấu hiểu

triết học

Phật giáo

, bởi vì lời

giáo huấn

về thuyết

duyên khởi

liên hệ

với nhiều điều

giáo huấn

khác kể cả thuyết về nghiệp (karma) và

tái sanh

(rebirth).

Toronto, 18 January 2017.

Nguyễn Vĩnh Thượng

Cựu  Giáo sư

Triết học

(1969-1975) tại các trường Petrus Ký, Hồ Ngọc Cẩn, Nguyễn

An Ninh

, Cần Đước và trường Sư Phạm Saigon.  

**

Tài liệu

tham khảo

chính yếu

:

-Bhikkhu Bodhi, edited & introduced, In the Buddha’s Words: An Anthology of Discourses from the Pali Canon, Foreword by The Dalai Lama, Boston: Wisdom Publications, 2005.

-Gombrich, Richard, Theravada Buddhism, London: Routledge, First published 1988, Reprinted 1991, 1994, 1995.

-Kalupahana, David J., Buddhist Philosophy: A Historical Analysis, Honolulu: University of Hawai Press, 1976.

-Kimura Taiken,

Nguyên Thủy

Phật giáo

Tư Tưởng

Luận; nguyên văn chữ Nhật, Hán dịch: Âu Dương Hãn Tồn, Việt dịch: Thích Quảng Độ, Saigon: ĐHVH, 1969. Chùa Khánh Anh ở Paris in lại,

Phật học Viện

Quốc tế ở California phát hành.

-Murti, T.R.V., The Central Philosophy of Buddhism, London: Unwin Paperbacks, First publishised in 1955, Reprinted in 1987.

-Narada, Mahathera, The Buddha and his Teachings, Kandy (Sri Lanka): Buddhist Publication Society, First enlarged edition: 1964, Second revised and enlarged edition: 1973.

-Nguyễn Vĩnh Thượng, Luận Lý Học (Sách giáo khoa lớp 12 ABCD), Saigon:

Hiện Đại

phát hành, 1972.

-Tâm Diệu,

Quan niệm

giải thoát

trong

Phật giáo

và Bà-la-môn giáo (bài biên khảo), Hoa Kỳ: Website Thư Viện

Hoa Sen

, 2011.

-Thích Chơn Thiện,

Phật học

Khái luận, California:

Thanh Văn

, 1992.

-Thích Quảng Liên, Sử cương

Triết học

Ấn độ

, Saigon:

tác giả

x.b., bài cours cho sinh viên chứng chỉ

Triết học

Ấn độ

, ĐHVK Saigon, 1965.

-Thích Thanh Kiểm, Lược sử

Phật giáo

Ấn độ

, Saigon: Lê Thanh thư xã, 1963.

-Thích Thiện Hoa,

Phật học

Phổ thông

từ khóa I đến khóa XII (gồm 12 quyển), đã xuất bản ở Saigon từ 1955 – 1964. Tái bản:

Phật Học Viện

Quốc tế, Sepulveda, CA, USA, 1982.

-Trần Thái Đỉnh,

Biện chứng

pháp là gì?, Saigon: Hướng Mới, 1969.

-Williams, Paul, Mahayana Buddhism, London: Routledge, First published 1989, Reprinted 1991, 1993.


Top 12 thập nhị thuẫn – Tấm Khiên Của Hoàng Đế Zeref


Cảm ơn anh em đã xem video ủng hộ Ma Zương Bi Huỳnh nhé, nhớ Like \u0026 Subscribe nhiaaa!
💰 Shop Mua Áo/Phụ Kiện Anime: https://shopee.vn/bihuynhshop
➤ Fanpage Bi Huỳnh: https://www.facebook.com/bihuynhsenpai
➤ Facebook Cá Nhân: https://www.facebook.com/bihuynh199x
➤ Group Anime: http://bit.ly/2DD71ld
➤ Ủng hộ kênh phụ của mình: http://bit.ly/2DcojVR

Cảm ơn anh em đã xem video và ủng hộ kênh Bi Huỳnh Senpai !!
🚫 ► Fairy Tail by “God” Hiro Mashima and A1 Pictures \u0026 Satelight
► これはファンで作ったワンピースビデオです。ビデオにある画像は Hiro Mashima 先生 と A1 Picturesさんのです。著作権に関してはbihuynh199x@gmail.com に連絡してください。何か問題があったら、私はすぐ削除します。ありがとうございます
► I do not own anything here, I do not own the song or any of the anime used in the video.
► Contact Me: bihuynh199x@gmail.com
© Bi Huỳnh Senpai Youtube Partner

Xem thêm bài viết thuộc chuyên mục: Tổng Hợp Tại nhahangcarnaval.com
Xem thêm bài viết thuộc chuyên mục: Tổng Hợp

Related Articles

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Back to top button