Wiki

Hiện trạng nguồn lợi cá nóc biển Việt Nam và vấn đề sử dụng cá nóc ở nước ta

Kỷ yếu kỷ niệm 35 năm thành lập Trường ĐH<br />
<br />
ng nghiệp Th c ph m T<br />
<br />
h<br />
<br />
inh<br />
<br />
-2017)<br />
<br />
HIỆN TRẠNG NGUỒN LỢI CÁ NÓC BIỂN VIỆT NAM VÀ VẤN ĐỀ SỬ<br />
DỤNG CÁ NÓC Ở NƯỚC TA<br />
Lê Doãn Dũng*, Nguyễn Văn Hiếu, Trần Quốc Đảm<br />
Trường Đại học Công nghiệp Thực phẩm Thành phố<br />
<br />
h<br />
<br />
inh<br />
<br />
*<br />
<br />
Email: dungld@cntp.edu.vn<br />
TÓM TẮT<br />
<br />
Cá nóc thuộc bộ Tetraodontiformes, là những loài cá có chứa độc tố Tetrodotoxin. Từ lâu, cá nóc là<br />
món ăn ưa thích của nhiều nước trên thế giới mà đặc biệt là ở các quốc gia Châu Á như Nhật Bản, Hàn<br />
Quốc, Trung Quốc, Việt Nam… và cũng từ lâu hiện tượng ngộ độc cá nóc đã được ghi nhận. Trong<br />
những năm gần đây, xu hướng sử dụng cá nóc làm thực phẩm ngày càng tăng và vấn đề ngộ độc cá nóc<br />
càng diễn ra thường xuyên hơn. Những vấn đề này đặt ra cho các nhà quản lý cần thiết phải kiểm soát và<br />
quản lý chặt chẽ hơn các hoạt động khai thác, buôn bán và tiêu thụ cá nóc. Báo cáo này cung cấp kết quả<br />
nghiên cứu về sự phân bố nguồn lợi cá nóc biển Việt Nam, trữ lượng cá nóc, danh mục các loài cá nóc có<br />
chứa độc tính và hàm lượng độc tính của những loài cá này. Thêm vào đó, báo cáo cũng chỉ ra sự biến đổi<br />
hàm lượng độc tố theo thời gian, sự khác nhau hàm lượng độc tố giữa các bộ phận trên cơ thể. Dựa trên<br />
những kết quả đó, báo cáo đề xuất một số biện giáp liên quan đến các vấn đề khai thác, bảo quản cá nóc<br />
trên tàu khai thác; bảo quản, chế biến trong các nhà hàng, khách sạn. Những vấn đề quản lý liên quan đến<br />
tiêu thụ cá nóc nhằm mục đích hướng đến an toàn vệ sinh thực phẩm cũng được đề xuất trong báo<br />
cáo này.<br />
Từ khóa: An toàn thực phẩm, Cá nóc, Độc tố, Tetrodotoxin, TTX.<br />
1. MỞ ĐẦU<br />
Cá nóc đã từ lâu được biết đến là sinh vật chứa độc tố Tetrodotoxin (TTX) – một loại độc tố thần<br />
kinh có khả năng gây ngộ độc cấp tính cho người và gia súc. Vấn đề ngộ độc cá nóc là nguyên nhân gây<br />
tử vong ở nhiều nước trên thế giới, nhất là các nước châu Á như Nhật Bản, Thái Lan, Philippins, Trung<br />
Quốc, Việt Nam… Hàng năm, Nhật Bản có khoảng vài chục ca ngộ độc cá nóc mặc dù quốc gia này đã có<br />
hệ thống giám sát, cảnh báo, chữa trị và quản lý hàng đầu thế giới.<br />
Ở Việt Nam, cá nóc phân bố trên khắp các vùng biển từ Bắc đến Nam nhưng chủ yếu từ Đà Nẵng<br />
đến Bà Rịa-Vũng Tàu. Trong những năm gần đây, hàng loạt các vụ ngộ độc do tiêu thụ các sản phẩm chế<br />
biến từ cá nóc đã xảy ra ở nhiều địa phương trên phạm vi cả nước, nhất là các khu vực dân cư ven biển.<br />
Mặc dù các cơ quan chức năng cảnh báo về nguy cơ ngộ độc thực phẩm từ cá nóc, thậm chí đã có lệnh<br />
cấm ngư dân khai thác, vận chuyển, thu mua và tiêu thụ cá nóc dưới mọi hình thức [1], song cho đến nay<br />
ở nhiều địa phương vẫn tồn tại việc khai thác và buôn bán cá nóc như một mặt hàng hải sản phổ biến.<br />
Nhiều cơ sở chuyên sản xuất và chế biến các sản phẩm từ cá nóc như cá nóc muối khô, nước mắm cá nóc,<br />
chả cá nóc… vẫn hoạt động. Vì vậy, các trường hợp ngộ độc và tử vong cá nóc vẫn xảy ra trên khắp cả<br />
nước, thậm chí ngay cả những vùng miền núi xa xôi như Đắc Lắc, Kom Tum… hoặc ở các tỉnh nội địa<br />
như Hà Nội, Hồ Chí Minh, Bắc Ninh… do ăn phải cá nóc đông lạnh, cá nóc khô.<br />
Từ những hiện trạng đó, báo cáo này cung cấp một số kết quả nghiên cứu về sự phân bố và nguồn<br />
lợi cá nóc biển nước ta hiện nay, các thông tin cơ bản về độc tính của cá nóc, hiện trạng sử dụng cá nóc và<br />
tình hình ngộ độc cá nóc ở Việt Nam và một số nước trên thế giới từ đó đề xuất một số giải pháp quản lý<br />
chặt chẽ từ khâu đánh bắt đến chế biến, tiêu thụ nhằm góp phần hạn chế tình trạng ngộ độc cá nóc, đảm<br />
bảo vệ sinh an toàn thực phẩm ở nước ta.<br />
<br />
158<br />
<br />
Hiện trạng ngu n lợi cá nóc biển việt nam và vấn đề sử dụng cá nóc ở nước ta<br />
2. NGUỒN LỢI CÁ NÓC BIỂN VIỆT NAM<br />
2.1. Thành phần loài và phân bố<br />
Cho đến nay đã phát hiện được 41 loài cá nóc ở vùng biển Việt Nam, trong đó đã phân loại và định<br />
danh khoa học được 37 loài thuộc 4 họ. Họ cá nóc có chứa độc tố Tetraodontidae có số lượng loài nhiều<br />
nhất 21 loài. Ba họ còn lại thường không chứa độc tố gồm họ cá nóc hòm Ostraciidae có 10 loài, họ cá<br />
nóc nhím Diodontidae có 5 loài và họ cá nóc 3 răng Triodontidae có 1 loài.<br />
Khu vực phân bố của 4 họ cá nóc ở vùng biển nước ta được thể hiện trong Hình 1. Các loài thuộc họ<br />
cá nóc gây độc Tetraodontidae phân bố ven bờ từ bắc tới nam, nhưng trữ lượng tập trung nhiều ở các tỉnh<br />
miền Trung. Ba họ cá nóc còn lại có phạm vi phân bố hẹp, chỉ xuất hiện ở một số vùng biển. Đặc biệt,<br />
loài Triodon macropterus thuộc họ cá nóc 3 răng chỉ phân bố duy nhất ở vùng biển ven bờ phía nam tỉnh<br />
Khánh Hòa.<br />
<br />
ình<br />
<br />
Phân bố thành phần loài cá nóc ở vùng biển Việt Nam<br />
(Nguồn: Nguyễn Văn Lệ, 2006)<br />
<br />
2.2. Sản lượng khai thác và trữ lượng<br />
Phương tiện khai thác cá nóc hiện nay chủ yếu là nghề lưới kéo đáy, gồm lưới kéo đơn và kéo đôi.<br />
Cá nóc không phải là đối tượng khai thác chính của nghề lưới này, nên sản lượng khai thác cá nóc thường<br />
thấp. Sản lượng cá nóc chiếm khoảng 2,46% tổng sản lượng chuyến biển, năng suất khai thác trung bình<br />
khoảng 3,7 kg/giờ. Chiếm ưu thế trong sản lượng khai thác là các loài cá nóc chứa độc tố thuộc họ<br />
Tetraodontidae (chiếm 2,04% tổng sản lượng toàn chuyến biển, năng suất khai thác khoảng 3,1 kg/giờ),<br />
họ cá nóc nhím (Diodontidae) và họ cá nóc hòm (Ostraciidae) chiếm tỉ lệ không nhiều trong sản lượng<br />
khai thác, năng suất khai thác nhỏ hơn 0,5 kg/giờ. Nếu tính theo loài, cá nóc mút đuôi trắng<br />
(Lagocephalus gloveri) và cá nóc đầu thỏ mắt to (Lagocephalus lunaris) là những loài có năng suất khai<br />
thác cao và chiếm tỉ lệ lớn trong sản lượng khai thác, các loài cá nóc khác năng suất khai thác thấp và<br />
chiếm tỉ lệ không đáng kể trong tổng sản lượng khai thác của chuyến biển (Bảng 1). Cá nóc mút đuôi<br />
trắng là loài không có độc tính, trong khi đó cá nóc đầu thỏ mắt to lại là loài cá có độc tính cực mạnh<br />
(Bảng 3).<br />
Bảng 1. Năng suất khai thác cá nóc ở vùng biển miền Trung qua chuyến điều tra bằng lưới kéo đáy<br />
Tên họ/loài<br />
<br />
Tên Việt Nam<br />
<br />
Năng suất khai<br />
thác (kg/giờ)<br />
<br />
% sản<br />
lượng<br />
<br />
Diodontidae<br />
<br />
Họ cá nóc nhím<br />
<br />
0,41<br />
<br />
0,27<br />
<br />
Cyclichthys sp.<br />
<br />
Cá nóc gai ngắn<br />
<br />
0,02<br />
<br />
0,01<br />
<br />
Cyclichthys orbicularis<br />
<br />
Cá nóc gai thô dài<br />
<br />
0,03<br />
<br />
0,02<br />
<br />
Cyclichthys spilostylus<br />
<br />
Cá nóc gai thô ngắn<br />
<br />
0,09<br />
<br />
0,05<br />
<br />
159<br />
<br />
o n<br />
<br />
ng<br />
<br />
g<br />
<br />
n ăn iế Tr n<br />
<br />
Diodon holocanthus<br />
<br />
Cá nóc nhím sáu vằn<br />
<br />
0,17<br />
<br />
0,12<br />
<br />
Lophodiodon calori<br />
<br />
Cá nóc nhím gai móc<br />
<br />
0,11<br />
<br />
0,07<br />
<br />
Ostraciidae<br />
<br />
Họ cá nóc hòm<br />
<br />
0,23<br />
<br />
0,15<br />
<br />
Lactoria diaphana<br />
<br />
Cá nóc hòm bụng lồi<br />
<br />
0,03<br />
<br />
0,02<br />
<br />
Tetrosomus concatenatus<br />
<br />
Cá nóc hòm lưng gù<br />
<br />
0,18<br />
<br />
0,12<br />
<br />
Tetrosomus gibbosus<br />
<br />
Cá nóc chóp<br />
<br />
0,02<br />
<br />
0,01<br />
<br />
Tetraodontidae<br />
<br />
Họ cá nóc<br />
<br />
3,05<br />
<br />
2,04<br />
<br />
Arothron firmamentum<br />
<br />
Cá nóc chuột chấm<br />
trắng<br />
<br />
0,03<br />
<br />
0,02<br />
<br />
Canthigaster rivulata<br />
<br />
Cá nóc dẹt vằn đuôi<br />
<br />
0,02<br />
<br />
0,01<br />
<br />
Lagocephalus gloveri<br />
<br />
Cá nóc mút đuôi trắng<br />
<br />
1,98<br />
<br />
1,33<br />
<br />
Lagocephalus inermis<br />
<br />
Cá nóc răng mỏ chim<br />
<br />
0,01<br />
<br />
0,01<br />
<br />
Lagocephalus lunaris<br />
<br />
Cá nóc đầu thỏ mắt to<br />
<br />
0,49<br />
<br />
0,33<br />
<br />
Lagocephalus spadiceus<br />
<br />
Cá nóc vàng<br />
<br />
0,09<br />
<br />
0,06<br />
<br />
Lagocephalus wheeleri<br />
<br />
Cá nóc xanh<br />
<br />
0,15<br />
<br />
0,10<br />
<br />
Sphoeroides pachygaster<br />
<br />
Cá nóc gáo<br />
<br />
0,10<br />
<br />
0,06<br />
<br />
Torquigener brevipinnis<br />
<br />
Cá nóc chấm cam vằn<br />
mắt<br />
<br />
0,05<br />
<br />
0,03<br />
<br />
Torquigener pallimaculatus<br />
<br />
Cá nóc chấm cam<br />
<br />
0,01<br />
<br />
0,01<br />
<br />
Tylerius spinosissimus<br />
<br />
Cá nóc gai đầu<br />
<br />
0,13<br />
<br />
0,08<br />
<br />
3,69<br />
<br />
2,46<br />
<br />
Tổng<br />
<br />
ốc Đảm<br />
<br />
(Ngu n: Nguy n ăn ệ, 2006)<br />
<br />
Sử dụng phương pháp diện tích để ước tính trữ lượng cá nóc (Pauly, 1984). Tổng trữ lượng cá nóc ở<br />
vùng biển Việt Nam ước lượng là 37.852 tấn, trong đó vùng biển miền Trung là 16.677 tấn, Tây Nam Bộ<br />
là 7.872 tấn, Đông Nam Bộ là 7.705 tấn và vịnh Bắc Bộ là 5.598 tấn. Họ cá nóc có độc tố Tetraodontidae<br />
chiếm trữ lượng cao nhất 32.134 tấn, họ cá nóc nhím có trữ lượng 4.212 tấn và họ cá nóc hòm 1.506 tấn.<br />
Bảng<br />
Tên loài<br />
<br />
Trữ lượng cá nóc ở biển Việt Nam năm 2005 (Đơn vị: Tấn)<br />
Tên Việt Nam<br />
<br />
VBB<br />
<br />
MT<br />
<br />
ĐNB<br />
<br />
TNB<br />
<br />
Tổng<br />
<br />
Họ Diodontidae<br />
<br />
Họ cá nóc nhím<br />
<br />
114<br />
<br />
1.992<br />
<br />
2.067<br />
<br />
39<br />
<br />
4.212<br />
<br />
Chilomycterus sp.<br />
<br />
Cá nóc lưng gù<br />
<br />
0<br />
<br />
98<br />
<br />
0<br />
<br />
0<br />
<br />
98<br />
<br />
Cyclichthys orbicularis<br />
<br />
Cá nóc gai thô dài<br />
<br />
10<br />
<br />
173<br />
<br />
1575<br />
<br />
0<br />
<br />
1.758<br />
<br />
Cyclichthys spilostylus<br />
<br />
Cá nóc gai thô ngắn<br />
<br />
0<br />
<br />
540<br />
<br />
37<br />
<br />
0<br />
<br />
577<br />
<br />
Diodon holocanthus<br />
<br />
Cá nóc nhím sáu vằn<br />
<br />
104<br />
<br />
854<br />
<br />
383<br />
<br />
39<br />
<br />
1.380<br />
<br />
Lophodiodon calori<br />
<br />
Cá nóc nhím gai móc<br />
<br />
0<br />
<br />
327<br />
<br />
72<br />
<br />
0<br />
<br />
399<br />
<br />
Họ Ostraciidae<br />
<br />
Họ cá nóc hòm<br />
<br />
0<br />
<br />
1.312<br />
<br />
194<br />
<br />
0<br />
<br />
1.506<br />
<br />
Lactoria diaphana<br />
<br />
Cá nóc hòm bụng lồi<br />
<br />
0<br />
<br />
175<br />
<br />
0<br />
<br />
0<br />
<br />
175<br />
<br />
Ostracion cubicus<br />
<br />
Cá nóc hòm tròn lưng<br />
<br />
0<br />
<br />
0<br />
<br />
16<br />
<br />
0<br />
<br />
16<br />
<br />
160<br />
<br />
Hiện trạng ngu n lợi cá nóc biển việt nam và vấn đề sử dụng cá nóc ở nước ta<br />
Ostracion sp.<br />
<br />
Cá nóc<br />
<br />
0<br />
<br />
0<br />
<br />
4<br />
<br />
0<br />
<br />
4<br />
<br />
Tetrosomus<br />
concatenatus<br />
<br />
Cá nóc hòm lưng gù<br />
<br />
0<br />
<br />
1031<br />
<br />
0<br />
<br />
0<br />
<br />
1031<br />
<br />
Tetrosomus gibbosus<br />
<br />
Cá nóc chóp<br />
<br />
0<br />
<br />
106<br />
<br />
174<br />
<br />
0<br />
<br />
280<br />
<br />
Họ Tetraodontidae<br />
<br />
Họ cá nóc<br />
<br />
5,484<br />
<br />
13,373<br />
<br />
5,444<br />
<br />
7,833<br />
<br />
32,134<br />
<br />
Arothron immaculatus<br />
<br />
Cá nóc chuột viền đuôi<br />
<br />
0<br />
<br />
0<br />
<br />
13<br />
<br />
0<br />
<br />
13<br />
<br />
Arothron stellatus<br />
<br />
Cá nóc chuột chấm đen<br />
<br />
0<br />
<br />
0<br />
<br />
85<br />
<br />
0<br />
<br />
85<br />
<br />
Canthigaster<br />
inframacula<br />
<br />
Cá nóc dẹt chấm bụng<br />
<br />
0<br />
<br />
11<br />
<br />
0<br />
<br />
0<br />
<br />
11<br />
<br />
Canthigaster rivulata<br />
<br />
Cá nóc dẹt vằn đuôi<br />
<br />
0<br />
<br />
107<br />
<br />
839<br />
<br />
0<br />
<br />
946<br />
<br />
Lagocephalus gloveri<br />
<br />
Cá nóc mút đuôi trắng<br />
<br />
7<br />
<br />
2374<br />
<br />
905<br />
<br />
0<br />
<br />
3286<br />
<br />
Lagocephalus inermis<br />
<br />
Cá nóc răng mỏ chim<br />
<br />
41<br />
<br />
112<br />
<br />
274<br />
<br />
611<br />
<br />
1038<br />
<br />
Lagocephalus lunaris<br />
<br />
Cá nóc đầu thỏ mắt to<br />
<br />
3,071<br />
<br />
2,229<br />
<br />
1,941<br />
<br />
3,901<br />
<br />
11,142<br />
<br />
Lagocephalus sceleratus<br />
<br />
Cá nóc đầu thỏ chấm<br />
<br />
0<br />
<br />
0<br />
<br />
83<br />
<br />
463<br />
<br />
546<br />
<br />
Lagocephalus sp.<br />
<br />
Cá nóc xanh<br />
<br />
0<br />
<br />
1<br />
<br />
0<br />
<br />
0<br />
<br />
1<br />
<br />
Lagocephalus spadiceus<br />
<br />
Cá nóc vàng<br />
<br />
901<br />
<br />
2733<br />
<br />
15<br />
<br />
316<br />
<br />
3965<br />
<br />
Lagocephalus wheeleri<br />
<br />
Cá nóc xanh<br />
<br />
1,464<br />
<br />
5,268<br />
<br />
198<br />
<br />
2,542<br />
<br />
9,472<br />
<br />
Sphoeroides pachygaster<br />
<br />
Cá nóc gáo<br />
<br />
0<br />
<br />
471<br />
<br />
0<br />
<br />
0<br />
<br />
471<br />
<br />
Torquigener brevipinnis<br />
<br />
Cá nóc chấm cam vằn mắt<br />
<br />
0<br />
<br />
67<br />
<br />
22<br />
<br />
0<br />
<br />
89<br />
<br />
Torquigener<br />
pallimaculatus<br />
<br />
Cá nóc chấm cam<br />
<br />
0<br />
<br />
0<br />
<br />
285<br />
<br />
0<br />
<br />
285<br />
<br />
Tylerius spinosissimus<br />
<br />
Cá nóc gai đầu<br />
<br />
0<br />
<br />
0<br />
<br />
784<br />
<br />
0<br />
<br />
784<br />
<br />
5,598<br />
<br />
16,677<br />
<br />
7,705<br />
<br />
7,872<br />
<br />
37,852<br />
<br />
14,79<br />
<br />
44,06<br />
<br />
20,36<br />
<br />
20,80<br />
<br />
100,00<br />
<br />
tròn<br />
<br />
Tổng<br />
%<br />
ác chữ viết tắt: BB – ịnh Bắc Bộ;<br />
<br />
T-<br />
<br />
iền Tr ng; Đ B – Đ ng am Bộ; T B – Tâ<br />
<br />
am Bộ<br />
<br />
(Ngu n: Nguy n ăn ệ, 2006)<br />
<br />
3. ĐỘC TÍNH CÁ NÓC<br />
Từ trước tới nay độc tố cá nóc chủ yếu được biết đến với tên gọi là Tetrodotoxin (viết tắt TTX). Các<br />
nghiên cứu gần đây cho thấy ngoài TTX, các loài cá nóc còn chứa một lượng độc tố là dẫn xuất của TTX<br />
(4-epi TTX; 4,9-anhydro TTX) và độc tố là dẫn xuất của PSPs (GTX6, GTX5, STX, dcSTX, neoSTX).<br />
Tuy nhiên trong thực tế hàm lượng PSPs rất thấp, góp phần không đáng kể vào tính độc chung của cá nóc<br />
(Hình 2) [2,3]. Chính vì vậy, TTX được các nhà khoa học gọi là độc tố cá nóc.<br />
Trong số 41 loài cá nóc ở biển Việt Nam hiện nay đã phát hiện được 21 loài chứa độc tính. Trong số<br />
đó, 10 loài cá nóc được xếp vào nhóm có độc tính rất mạnh, có hàm lượng độc tố từ 2,656-10,641MU/g;<br />
7 loài được xếp vào nhóm có độc tính mạnh, hàm lượng độc tố từ 220-909 MU/g và 4 loài có độc tố nhẹ<br />
từ 6,17-116,26 MU/g. Trong các bộ phận nội quan của cá nóc, trứng được xác định là bộ phận có hàm<br />
lượng độc tố cao nhất, tiếp đến là gan, ruột, da, thịt, tinh sào và thấp nhất là mật (Bảng 3).<br />
<br />
161<br />
<br />
o n<br />
<br />
ng<br />
<br />
g<br />
<br />
n ăn iế Tr n<br />
<br />
MU/g<br />
<br />
ốc Đảm<br />
<br />
PSPs<br />
<br />
1250<br />
<br />
TTXs<br />
<br />
1200<br />
1150<br />
1100<br />
<br />
3<br />
<br />
1050<br />
1000<br />
950<br />
900<br />
850<br />
800<br />
750<br />
700<br />
650<br />
600<br />
550<br />
500<br />
450<br />
400<br />
<br />
4<br />
<br />
350<br />
300<br />
<br />
6<br />
<br />
250<br />
<br />
5<br />
<br />
200<br />
<br />
1<br />
<br />
150<br />
100<br />
<br />
0<br />
<br />
Th<br />
<br />
D<br />
<br />
ình<br />
<br />
G<br />
<br />
R<br />
<br />
7<br />
<br />
2<br />
<br />
50<br />
<br />
Tr<br />
<br />
Th<br />
<br />
D<br />
<br />
G<br />
<br />
R<br />
<br />
Tr<br />
<br />
Th<br />
<br />
D<br />
<br />
G<br />
<br />
R<br />
<br />
Tr<br />
<br />
Th<br />
<br />
D<br />
<br />
G<br />
<br />
R<br />
<br />
Tr<br />
<br />
Th<br />
<br />
D<br />
<br />
G<br />
<br />
R<br />
<br />
M<br />
<br />
Tr<br />
<br />
Th<br />
<br />
D<br />
<br />
G<br />
<br />
R<br />
<br />
Th<br />
<br />
D<br />
<br />
G<br />
<br />
R<br />
<br />
Tr<br />
<br />
Hàm lượng độc tính của 7 loài cá nóc ở vùng biển nước ta (Đơn vị: MU/g)<br />
(Nguồn: Nguyễn Văn Lệ, 2006; Nguyễn Hữu Hoàng, 2008)<br />
<br />
Ghi chú: 1- Lagocephalus wheeleri; 2- L. inermis; 3- T. pallimaculatus; 4- Lagocephalus lunaris; 5- L.<br />
gloveri; 6- T. brevipinnis; 7- Lagocephalus spadiceus<br />
ác chữ viết tắt: Th – Thận;<br />
<br />
– Da; G – Gan; R – R ột và Tr – Trứng<br />
<br />
Bảng 3. Hàm lượng độc tính trong các cơ quan nội quan của 21 loài cá nóc ở biển Việt Nam (Đơn vị: MU/g)<br />
Nhóm độc<br />
tính<br />
<br />
Độc<br />
tính rất<br />
mạnh<br />
<br />
Tên khoa học<br />
<br />
Ruột<br />
<br />
Da<br />
<br />
Thịt<br />
<br />
Mật<br />
<br />
Tổng<br />
<br />
Torquigener pallimaculatus<br />
<br />
12,1 1.0641,1<br />
<br />
Lagocephalus lunaris<br />
<br />
1.892,9<br />
<br />
45,3<br />
<br />
460,9<br />
<br />
193,4<br />
<br />
95,5 164,1 656,8<br />
<br />
3.508,9<br />
<br />
Torquigener brevipinnis<br />
<br />
602,6<br />
<br />
2.255,6 747,2 140,0 200,0 138,2<br />
<br />
Lagocephalus sceleratus<br />
<br />
385,4<br />
<br />
1841,8<br />
<br />
472,2<br />
<br />
68,5<br />
<br />
23,8<br />
<br />
47,2<br />
<br />
Arothron immaculatus<br />
<br />
5.502,9<br />
<br />
125,6<br />
<br />
243,8 221,3 197,7<br />
<br />
78,0<br />
<br />
161,3 6.530,5<br />
<br />
Takifugu oblongus<br />
<br />
1.553,0<br />
<br />
698,3<br />
<br />
250,1<br />
<br />
21,4<br />
<br />
11,6<br />
<br />
67,3<br />
<br />
54,3<br />
<br />
369,9<br />
<br />
9217,2<br />
<br />
183,0<br />
<br />
38,7<br />
<br />
7,9<br />
<br />
39,7<br />
<br />
108,2 9.964,5<br />
<br />
Arothron hispidus<br />
<br />
3.131,5<br />
<br />
31,0<br />
<br />
30,4<br />
<br />
202,0 15,6<br />
<br />
145,0<br />
<br />
5,8<br />
<br />
3.561,3<br />
<br />
Arothron stellatus<br />
<br />
2.487,0<br />
<br />
46,7<br />
<br />
48,2<br />
<br />
85,3<br />
<br />
17,6<br />
<br />
355,4<br />
<br />
14,2<br />
<br />
3.054,3<br />
<br />
Canthigaster valentini<br />
<br />
3.692,0<br />
<br />
31,3<br />
<br />
45,8<br />
<br />
281,6<br />
<br />
4,5 1.102,0<br />
<br />
-<br />
<br />
5.157,2<br />
<br />
Chelonodon patoca<br />
<br />
344,0<br />
<br />
74,3<br />
<br />
187,0 191,0 50,9<br />
<br />
62,0<br />
<br />
-<br />
<br />
909,2<br />
<br />
Canthigaster rivulata<br />
<br />
255,4<br />
<br />
147,1<br />
<br />
195,1 113,5 62,2<br />
<br />
88,1<br />
<br />
-<br />
<br />
861,3<br />
<br />
Takifugu niphobles<br />
<br />
127,4<br />
<br />
55,6<br />
<br />
26,7<br />
<br />
17,6<br />
<br />
24,1<br />
<br />
23,2<br />
<br />
-<br />
<br />
274,5<br />
<br />
Arothron nigropunctatus<br />
<br />
215,8<br />
<br />
97,3<br />
<br />
13,3<br />
<br />
22,5<br />
<br />
7,9<br />
<br />
119,5<br />
<br />
-<br />
<br />
476,3<br />
<br />
Lagocephalus suezensis<br />
<br />
14,4<br />
<br />
149,9<br />
<br />
39,5<br />
<br />
8,0<br />
<br />
10,1<br />
<br />
26,5<br />
<br />
-<br />
<br />
248,4<br />
<br />
Lagocephlus spadiceus<br />
<br />
49,2<br />
<br />
216,7<br />
<br />
12,1<br />
<br />
7,5<br />
<br />
3,2<br />
<br />
4,0<br />
<br />
-<br />
<br />
292,7<br />
<br />
Tylerius spinossissimus<br />
<br />
115,5<br />
<br />
28,8<br />
<br />
44,9<br />
<br />
7,3<br />
<br />
18,3<br />
<br />
5,4<br />
<br />
-<br />
<br />
220,3<br />
<br />
-<br />
<br />
52,8<br />
<br />
35,5<br />
<br />
7,1<br />
<br />
20,9<br />
<br />
-<br />
<br />
-<br />
<br />
116,3<br />
<br />
Arothron mappa<br />
<br />
16,4<br />
<br />
3,4<br />
<br />
-<br />
<br />
-<br />
<br />
-<br />
<br />
8,2<br />
<br />
-<br />
<br />
28,0<br />
<br />
Takifugu ocellatus<br />
<br />
29,6<br />
<br />
-<br />
<br />
1,8<br />
<br />
-<br />
<br />
-<br />
<br />
-<br />
<br />
-<br />
<br />
31,5<br />
<br />
-<br />
<br />
-<br />
<br />
-<br />
<br />
6,2<br />
<br />
-<br />
<br />
-<br />
<br />
-<br />
<br />
6,2<br />
<br />
Canthigaster inframacula<br />
Độc<br />
tính<br />
nhẹ<br />
<br />
Gan<br />
<br />
Tinh<br />
sào<br />
2.448,0 3.441,5 3.625,1 605,1 444,4 64,9<br />
<br />
Lagocephalus inermis<br />
<br />
Độc<br />
tính<br />
mạnh<br />
<br />
Trứng<br />
<br />
Arothron firmamentum<br />
<br />
56,8<br />
<br />
g<br />
<br />
4.083,5<br />
<br />
n: g<br />
<br />
2.895,7<br />
<br />
2.656,0<br />
<br />
n ăn ệ 006)<br />
<br />
Hàm lượng độc tố trong cơ thể cá nóc biến đổi theo giai đoạn phát triển của cá thể và theo mùa vụ rõ<br />
rệt. Theo giai đoạn phát triển cá thể: Đối với cá thể đực, độc tính thường tăng cao từ giai đoạn IV đến giai<br />
162<br />
<br />

Xem Thêm:  LẦN ĐẦU LÀM CHUYỆN ẤY | Woossi hát nhạc ĐIỆN MÁY XANH sẽ ra sao???

Xem thêm :  Top bể bơi Hà Nội rộng, đẹp, giá rẻ bung xõa suốt 4 mùa

Kỷ yếu kỷ niệm 35 năm thành lập Trường ĐH

ng nghiệp Th c ph m T

h

inh

-2017)

HIỆN TRẠNG NGUỒN LỢI CÁ NÓC BIỂN VIỆT NAM VÀ VẤN ĐỀ SỬ
DỤNG CÁ NÓC Ở NƯỚC TA
Lê Doãn Dũng*, Nguyễn Văn Hiếu, Trần Quốc Đảm
Trường Đại học Công nghiệp Thực phẩm Thành phố

h

inh

*

Email: dungld@cntp.edu.vn
TÓM TẮT

Cá nóc thuộc bộ Tetraodontiformes, là những loài cá có chứa độc tố Tetrodotoxin. Từ lâu, cá nóc là
món ăn ưa thích của nhiều nước trên thế giới mà đặc biệt là ở các quốc gia Châu Á như Nhật Bản, Hàn
Quốc, Trung Quốc, Việt Nam… và cũng từ lâu hiện tượng ngộ độc cá nóc đã được ghi nhận. Trong
những năm gần đây, xu hướng sử dụng cá nóc làm thực phẩm ngày càng tăng và vấn đề ngộ độc cá nóc
càng diễn ra thường xuyên hơn. Những vấn đề này đặt ra cho các nhà quản lý cần thiết phải kiểm soát và
quản lý chặt chẽ hơn các hoạt động khai thác, buôn bán và tiêu thụ cá nóc. Báo cáo này cung cấp kết quả
nghiên cứu về sự phân bố nguồn lợi cá nóc biển Việt Nam, trữ lượng cá nóc, danh mục các loài cá nóc có
chứa độc tính và hàm lượng độc tính của những loài cá này. Thêm vào đó, báo cáo cũng chỉ ra sự biến đổi
hàm lượng độc tố theo thời gian, sự khác nhau hàm lượng độc tố giữa các bộ phận trên cơ thể. Dựa trên
những kết quả đó, báo cáo đề xuất một số biện giáp liên quan đến các vấn đề khai thác, bảo quản cá nóc
trên tàu khai thác; bảo quản, chế biến trong các nhà hàng, khách sạn. Những vấn đề quản lý liên quan đến
tiêu thụ cá nóc nhằm mục đích hướng đến an toàn vệ sinh thực phẩm cũng được đề xuất trong báo
cáo này.
Từ khóa: An toàn thực phẩm, Cá nóc, Độc tố, Tetrodotoxin, TTX.
1. MỞ ĐẦU
Cá nóc đã từ lâu được biết đến là sinh vật chứa độc tố Tetrodotoxin (TTX) – một loại độc tố thần
kinh có khả năng gây ngộ độc cấp tính cho người và gia súc. Vấn đề ngộ độc cá nóc là nguyên nhân gây
tử vong ở nhiều nước trên thế giới, nhất là các nước châu Á như Nhật Bản, Thái Lan, Philippins, Trung
Quốc, Việt Nam… Hàng năm, Nhật Bản có khoảng vài chục ca ngộ độc cá nóc mặc dù quốc gia này đã có
hệ thống giám sát, cảnh báo, chữa trị và quản lý hàng đầu thế giới.
Ở Việt Nam, cá nóc phân bố trên khắp các vùng biển từ Bắc đến Nam nhưng chủ yếu từ Đà Nẵng
đến Bà Rịa-Vũng Tàu. Trong những năm gần đây, hàng loạt các vụ ngộ độc do tiêu thụ các sản phẩm chế
biến từ cá nóc đã xảy ra ở nhiều địa phương trên phạm vi cả nước, nhất là các khu vực dân cư ven biển.
Mặc dù các cơ quan chức năng cảnh báo về nguy cơ ngộ độc thực phẩm từ cá nóc, thậm chí đã có lệnh
cấm ngư dân khai thác, vận chuyển, thu mua và tiêu thụ cá nóc dưới mọi hình thức [1], song cho đến nay
ở nhiều địa phương vẫn tồn tại việc khai thác và buôn bán cá nóc như một mặt hàng hải sản phổ biến.
Nhiều cơ sở chuyên sản xuất và chế biến các sản phẩm từ cá nóc như cá nóc muối khô, nước mắm cá nóc,
chả cá nóc… vẫn hoạt động. Vì vậy, các trường hợp ngộ độc và tử vong cá nóc vẫn xảy ra trên khắp cả
nước, thậm chí ngay cả những vùng miền núi xa xôi như Đắc Lắc, Kom Tum… hoặc ở các tỉnh nội địa
như Hà Nội, Hồ Chí Minh, Bắc Ninh… do ăn phải cá nóc đông lạnh, cá nóc khô.
Từ những hiện trạng đó, báo cáo này cung cấp một số kết quả nghiên cứu về sự phân bố và nguồn
lợi cá nóc biển nước ta hiện nay, các thông tin cơ bản về độc tính của cá nóc, hiện trạng sử dụng cá nóc và
tình hình ngộ độc cá nóc ở Việt Nam và một số nước trên thế giới từ đó đề xuất một số giải pháp quản lý
chặt chẽ từ khâu đánh bắt đến chế biến, tiêu thụ nhằm góp phần hạn chế tình trạng ngộ độc cá nóc, đảm
bảo vệ sinh an toàn thực phẩm ở nước ta.

Xem Thêm:  Cách nấu lẩu cua đồng ngon đơn giản ngay tại nhà – ❤️‎ Tạp chí hay

Xem thêm :  Cách làm bánh quẩy giòn xốp, thơm bùi ăn ngọt béo

158

Hiện trạng ngu n lợi cá nóc biển việt nam và vấn đề sử dụng cá nóc ở nước ta
2. NGUỒN LỢI CÁ NÓC BIỂN VIỆT NAM
2.1. Thành phần loài và phân bố
Cho đến nay đã phát hiện được 41 loài cá nóc ở vùng biển Việt Nam, trong đó đã phân loại và định
danh khoa học được 37 loài thuộc 4 họ. Họ cá nóc có chứa độc tố Tetraodontidae có số lượng loài nhiều
nhất 21 loài. Ba họ còn lại thường không chứa độc tố gồm họ cá nóc hòm Ostraciidae có 10 loài, họ cá
nóc nhím Diodontidae có 5 loài và họ cá nóc 3 răng Triodontidae có 1 loài.
Khu vực phân bố của 4 họ cá nóc ở vùng biển nước ta được thể hiện trong Hình 1. Các loài thuộc họ
cá nóc gây độc Tetraodontidae phân bố ven bờ từ bắc tới nam, nhưng trữ lượng tập trung nhiều ở các tỉnh
miền Trung. Ba họ cá nóc còn lại có phạm vi phân bố hẹp, chỉ xuất hiện ở một số vùng biển. Đặc biệt,
loài Triodon macropterus thuộc họ cá nóc 3 răng chỉ phân bố duy nhất ở vùng biển ven bờ phía nam tỉnh
Khánh Hòa.

ình

Phân bố thành phần loài cá nóc ở vùng biển Việt Nam
(Nguồn: Nguyễn Văn Lệ, 2006)

2.2. Sản lượng khai thác và trữ lượng
Phương tiện khai thác cá nóc hiện nay chủ yếu là nghề lưới kéo đáy, gồm lưới kéo đơn và kéo đôi.
Cá nóc không phải là đối tượng khai thác chính của nghề lưới này, nên sản lượng khai thác cá nóc thường
thấp. Sản lượng cá nóc chiếm khoảng 2,46% tổng sản lượng chuyến biển, năng suất khai thác trung bình
khoảng 3,7 kg/giờ. Chiếm ưu thế trong sản lượng khai thác là các loài cá nóc chứa độc tố thuộc họ
Tetraodontidae (chiếm 2,04% tổng sản lượng toàn chuyến biển, năng suất khai thác khoảng 3,1 kg/giờ),
họ cá nóc nhím (Diodontidae) và họ cá nóc hòm (Ostraciidae) chiếm tỉ lệ không nhiều trong sản lượng
khai thác, năng suất khai thác nhỏ hơn 0,5 kg/giờ. Nếu tính theo loài, cá nóc mút đuôi trắng
(Lagocephalus gloveri) và cá nóc đầu thỏ mắt to (Lagocephalus lunaris) là những loài có năng suất khai
thác cao và chiếm tỉ lệ lớn trong sản lượng khai thác, các loài cá nóc khác năng suất khai thác thấp và
chiếm tỉ lệ không đáng kể trong tổng sản lượng khai thác của chuyến biển (Bảng 1). Cá nóc mút đuôi
trắng là loài không có độc tính, trong khi đó cá nóc đầu thỏ mắt to lại là loài cá có độc tính cực mạnh
(Bảng 3).
Bảng 1. Năng suất khai thác cá nóc ở vùng biển miền Trung qua chuyến điều tra bằng lưới kéo đáy
Tên họ/loài

Xem Thêm:  THỊT BÒ XÀO MỀM – Bí quyết xào thịt Bò và Bắp Bò Gân (Beef Shank) không bị dai by Vành Khuyên

Xem thêm :  Tổng hợp danh sách các loại cá cảnh nước ngọt Việt Nam

Tên Việt Nam

Năng suất khai
thác (kg/giờ)

% sản
lượng

Diodontidae

Họ cá nóc nhím

0,41

0,27

Cyclichthys sp.

Cá nóc gai ngắn

0,02

0,01

Cyclichthys orbicularis

Cá nóc gai thô dài

0,03

0,02

Cyclichthys spilostylus

Cá nóc gai thô ngắn

0,09

0,05

159

o n

ng

g

n ăn iế Tr n

Diodon holocanthus

Cá nóc nhím sáu vằn

0,17

0,12

Lophodiodon calori

Cá nóc nhím gai móc

0,11

0,07

Ostraciidae

Họ cá nóc hòm

0,23

0,15

Lactoria diaphana

Cá nóc hòm bụng lồi

0,03

0,02

Tetrosomus concatenatus

Cá nóc hòm lưng gù

0,18

0,12

Tetrosomus gibbosus

Cá nóc chóp

0,02

0,01

Tetraodontidae

Họ cá nóc

3,05

2,04

Arothron firmamentum

Cá nóc chuột chấm
trắng

0,03

0,02

Canthigaster rivulata

Cá nóc dẹt vằn đuôi

0,02

0,01

Lagocephalus gloveri

Cá nóc mút đuôi trắng

1,98

1,33

Lagocephalus inermis

Cá nóc răng mỏ chim

0,01

0,01

Lagocephalus lunaris

Cá nóc đầu thỏ mắt to

0,49

0,33

Lagocephalus spadiceus

Cá nóc vàng

0,09

0,06

Lagocephalus wheeleri

Cá nóc xanh

0,15

0,10

Sphoeroides pachygaster

Cá nóc gáo

0,10

0,06

Torquigener brevipinnis

Cá nóc chấm cam vằn
mắt

0,05

0,03

Torquigener pallimaculatus

Cá nóc chấm cam

0,01

0,01

Tylerius spinosissimus

Cá nóc gai đầu

0,13

0,08

3,69

2,46

Tổng

ốc Đảm

(Ngu n: Nguy n ăn ệ, 2006)

Sử dụng phương pháp diện tích để ước tính trữ lượng cá nóc (Pauly, 1984). Tổng trữ lượng cá nóc ở
vùng biển Việt Nam ước lượng là 37.852 tấn, trong đó vùng biển miền Trung là 16.677 tấn, Tây Nam Bộ
là 7.872 tấn, Đông Nam Bộ là 7.705 tấn và vịnh Bắc Bộ là 5.598 tấn. Họ cá nóc có độc tố Tetraodontidae
chiếm trữ lượng cao nhất 32.134 tấn, họ cá nóc nhím có trữ lượng 4.212 tấn và họ cá nóc hòm 1.506 tấn.
Bảng
Tên loài

Trữ lượng cá nóc ở biển Việt Nam năm 2005 (Đơn vị: Tấn)
Tên Việt Nam

VBB

MT

ĐNB

TNB

Tổng

Họ Diodontidae

Họ cá nóc nhím

114

1.992

2.067

39

4.212

Chilomycterus sp.

Cá nóc lưng gù

0

98

0

0

98

Cyclichthys orbicularis

Cá nóc gai thô dài

10

173

1575

0

1.758

Cyclichthys spilostylus

Cá nóc gai thô ngắn

0

540

37

0

577

Diodon holocanthus

Cá nóc nhím sáu vằn

104

854

383

39

1.380

Lophodiodon calori

Cá nóc nhím gai móc

0

327

72

0

399

Họ Ostraciidae

Họ cá nóc hòm

0

1.312

194

0

1.506

Lactoria diaphana

Cá nóc hòm bụng lồi

0

175

0

0

175

Ostracion cubicus

Cá nóc hòm tròn lưng

0

0

16

0

16

160

Hiện trạng ngu n lợi cá nóc biển việt nam và vấn đề sử dụng cá nóc ở nước ta
Ostracion sp.

Cá nóc

0

0

4

0

4

Tetrosomus
concatenatus

Cá nóc hòm lưng gù

0

1031

0

0

1031

Tetrosomus gibbosus

Cá nóc chóp

0

106

174

0

280

Họ Tetraodontidae

Họ cá nóc

5,484

13,373

5,444

7,833

32,134

Arothron immaculatus

Cá nóc chuột viền đuôi

0

0

13

0

13

Arothron stellatus

Cá nóc chuột chấm đen

0

0

85

0

85

Canthigaster
inframacula

Cá nóc dẹt chấm bụng

0

11

0

0

11

Canthigaster rivulata

Cá nóc dẹt vằn đuôi

0

107

839

0

946

Lagocephalus gloveri

Cá nóc mút đuôi trắng

7

2374

905

0

3286

Lagocephalus inermis

Cá nóc răng mỏ chim

41

112

274

611

1038

Lagocephalus lunaris

Cá nóc đầu thỏ mắt to

3,071

2,229

1,941

3,901

11,142

Lagocephalus sceleratus

Cá nóc đầu thỏ chấm

0

0

83

463

546

Lagocephalus sp.

Cá nóc xanh

0

1

0

0

1

Lagocephalus spadiceus

Cá nóc vàng

901

2733

15

316

3965

Lagocephalus wheeleri

Cá nóc xanh

1,464

5,268

198

2,542

9,472

Sphoeroides pachygaster

Cá nóc gáo

0

471

0

0

471

Torquigener brevipinnis

Cá nóc chấm cam vằn mắt

0

67

22

0

89

Torquigener
pallimaculatus

Cá nóc chấm cam

0

0

285

0

285

Tylerius spinosissimus

Cá nóc gai đầu

0

0

784

0

784

5,598

16,677

7,705

7,872

37,852

14,79

44,06

20,36

20,80

100,00

tròn

Tổng
%
ác chữ viết tắt: BB – ịnh Bắc Bộ;

T-

iền Tr ng; Đ B – Đ ng am Bộ; T B – Tâ

am Bộ

(Ngu n: Nguy n ăn ệ, 2006)

3. ĐỘC TÍNH CÁ NÓC
Từ trước tới nay độc tố cá nóc chủ yếu được biết đến với tên gọi là Tetrodotoxin (viết tắt TTX). Các
nghiên cứu gần đây cho thấy ngoài TTX, các loài cá nóc còn chứa một lượng độc tố là dẫn xuất của TTX
(4-epi TTX; 4,9-anhydro TTX) và độc tố là dẫn xuất của PSPs (GTX6, GTX5, STX, dcSTX, neoSTX).
Tuy nhiên trong thực tế hàm lượng PSPs rất thấp, góp phần không đáng kể vào tính độc chung của cá nóc
(Hình 2) [2,3]. Chính vì vậy, TTX được các nhà khoa học gọi là độc tố cá nóc.
Trong số 41 loài cá nóc ở biển Việt Nam hiện nay đã phát hiện được 21 loài chứa độc tính. Trong số
đó, 10 loài cá nóc được xếp vào nhóm có độc tính rất mạnh, có hàm lượng độc tố từ 2,656-10,641MU/g;
7 loài được xếp vào nhóm có độc tính mạnh, hàm lượng độc tố từ 220-909 MU/g và 4 loài có độc tố nhẹ
từ 6,17-116,26 MU/g. Trong các bộ phận nội quan của cá nóc, trứng được xác định là bộ phận có hàm
lượng độc tố cao nhất, tiếp đến là gan, ruột, da, thịt, tinh sào và thấp nhất là mật (Bảng 3).

161

o n

ng

g

n ăn iế Tr n

MU/g

ốc Đảm

PSPs

1250

TTXs

1200
1150
1100

3

1050
1000
950
900
850
800
750
700
650
600
550
500
450
400

4

350
300

6

250

5

200

1

150
100

0

Th

D

ình

G

R

7

2

50

Tr

Th

D

G

R

Tr

Th

D

G

R

Tr

Th

D

G

R

Tr

Th

D

G

R

M

Tr

Th

D

G

R

Th

D

G

R

Tr

Hàm lượng độc tính của 7 loài cá nóc ở vùng biển nước ta (Đơn vị: MU/g)
(Nguồn: Nguyễn Văn Lệ, 2006; Nguyễn Hữu Hoàng, 2008)

Ghi chú: 1- Lagocephalus wheeleri; 2- L. inermis; 3- T. pallimaculatus; 4- Lagocephalus lunaris; 5- L.
gloveri; 6- T. brevipinnis; 7- Lagocephalus spadiceus
ác chữ viết tắt: Th – Thận;

– Da; G – Gan; R – R ột và Tr – Trứng

Bảng 3. Hàm lượng độc tính trong các cơ quan nội quan của 21 loài cá nóc ở biển Việt Nam (Đơn vị: MU/g)
Nhóm độc
tính

Độc
tính rất
mạnh

Tên khoa học

Ruột

Da

Thịt

Mật

Tổng

Torquigener pallimaculatus

12,1 1.0641,1

Lagocephalus lunaris

1.892,9

45,3

460,9

193,4

95,5 164,1 656,8

3.508,9

Torquigener brevipinnis

602,6

2.255,6 747,2 140,0 200,0 138,2

Lagocephalus sceleratus

385,4

1841,8

472,2

68,5

23,8

47,2

Arothron immaculatus

5.502,9

125,6

243,8 221,3 197,7

78,0

161,3 6.530,5

Takifugu oblongus

1.553,0

698,3

250,1

21,4

11,6

67,3

54,3

369,9

9217,2

183,0

38,7

7,9

39,7

108,2 9.964,5

Arothron hispidus

3.131,5

31,0

30,4

202,0 15,6

145,0

5,8

3.561,3

Arothron stellatus

2.487,0

46,7

48,2

85,3

17,6

355,4

14,2

3.054,3

Canthigaster valentini

3.692,0

31,3

45,8

281,6

4,5 1.102,0

5.157,2

Chelonodon patoca

344,0

74,3

187,0 191,0 50,9

62,0

909,2

Canthigaster rivulata

255,4

147,1

195,1 113,5 62,2

88,1

861,3

Takifugu niphobles

127,4

55,6

26,7

17,6

24,1

23,2

274,5

Arothron nigropunctatus

215,8

97,3

13,3

22,5

7,9

119,5

476,3

Lagocephalus suezensis

14,4

149,9

39,5

8,0

10,1

26,5

248,4

Lagocephlus spadiceus

49,2

216,7

12,1

7,5

3,2

4,0

292,7

Tylerius spinossissimus

115,5

28,8

44,9

7,3

18,3

5,4

220,3

52,8

35,5

7,1

20,9

116,3

Arothron mappa

16,4

3,4

8,2

28,0

Takifugu ocellatus

29,6

1,8

31,5

6,2

6,2

Canthigaster inframacula
Độc
tính
nhẹ

Gan

Tinh
sào
2.448,0 3.441,5 3.625,1 605,1 444,4 64,9

Lagocephalus inermis

Độc
tính
mạnh

Trứng

Arothron firmamentum

56,8

g

4.083,5

n: g

2.895,7

2.656,0

n ăn ệ 006)

Hàm lượng độc tố trong cơ thể cá nóc biến đổi theo giai đoạn phát triển của cá thể và theo mùa vụ rõ
rệt. Theo giai đoạn phát triển cá thể: Đối với cá thể đực, độc tính thường tăng cao từ giai đoạn IV đến giai
162

Xem thêm bài viết thuộc chuyên mục: Ẩm Thực

Related Articles

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Back to top button